Monday, July 13, 2009

Giữa Sương và Khói

Entry for July 13, 2009
Giữa Sương và Khói

Nguyễn thị Minh Ngọc

1. Hai nữ nghệ sĩ ấy cùng yêu một người đàn ông. Một đã mất. Một còn sống. Nam nghệ sĩ kiêm soạn giả tên tuổi ấy cũng không còn. Tôi may mắn được biết cả hai cô dù tuổi đời của họ có thể là mẹ, thậm chí chí là bà ngoại của tôi.

Những gì tôi biết về họ, đủ cho tôi viết một truyện đầy cảm xúc về tình yêu. Nhưng mãi đến giờ tôi vẩn chùn tay vì sức tưởng tượng của tôi không thể cao hơn những gì tôi đã được nghe thấy; mà sự thật của người nầy có thể làm tổn thương sự thật kia. Dù người không còn sống, người đã lẫn lộn các loại ký ức, nhưng quanh họ vẫn còn biết bao nhiêu con cháu, học trò và nhiều hệ lụy ràng buộc chung quanh, cần có những sự thật theo ý họ mong muốn. Mà đã chắc gì sự thật chính tôi được nghe, sờ.. trực tiếp là đúng, hay cũng đã được gia cố, tưởng tượng thêm của người nữ vĩnh viễn chọn, tặng đời cho yêu chỉ một lần. Có thể, họ cũng đã từng có những mối tình - coi như phụ - khác; nhưng với họ, phụ có nghĩa là âm, hay là không.

Nam nghệ sĩ kia, theo tôi biết, vị thế và tài năng của ông khiến quanh ông không chỉ có trái tim của hai người phụ nữ ấy mà còn nhiều, rất nhiều .. Lâu lắm rồi, nhân dịp giổ tổ sân khấu, được ngồi cạnh vợ của ông - người đã sanh cho ông những người con đã có những nỗ lực đáng kể để xứng đáng với tên ông, tôi đã làm một cuộc phỏng vấn nho nhỏ, xin bà cho biết bí quyết nào đã giúp bà chiến thắng bao mỹ nhân tài sắc khác trong ngành để trở thành “hoàng hậu”. Lúc ấy bà đã thất tuần, chiếc miệng móm vẫn tràn đầy duyên dáng, thì thào:

- Cô đã chinh phục thầy bằng tài năng. Cỡ như ông ấy mà kém tài thì không cách nào giữ được chân. Làm sao ông ấy có thể sống được bên những người đẹp vô hồn.

“Cô gái kia” thật ra đâu có kém tài năng, thậm chí có phần vượt trội. Quanh cô không bao giờ thiếu những người lụy vì cô và cô lụy. Như một số phần, ông đơn lẽ thì cô đã có đôi và ngược lại, khi cô một mình thì ông không thể đến với cô. Ðể rồi đến cuối đời, ai cũng thấy cô chỉ muốn nhắc đến MỘT, và tin rằng đời mình có một đó đã đủ lắm rồi. Chẳng thế mà cô buông tất cả để vào sống trong khuôn viên ngôi chùa cạnh nghĩa trang nghệ sĩ để chiều chiều còn ghé sang ngôi mộ của “chàng trai” và hát cho chàng nghe bốn câu vọng cổ mà cô vẫn khoe với mọi người rằng người ấy soạn cho cô.

Ngày được tin ngôi mộ ấy phải được bốc đi, chuyển thành tro bụi mang về một ngôi chùa khác - mà cũng phải thôi - để nằm cạnh tro bụi của thân nhân và người vợ đã sanh cho mình những người con mà cả hai đều tự hào; chúng tôi rất sợ một sang chấn tâm thần nào sẽ đến với người phụ nữ đơn thân ở tuổi gần trăm nhưng vẫn níu chút tình xưa làm lẽ sống.

Dịp giỗ tổ năm nay, cô vẫn nền nã áo dài, yểu điệu khăn san buông lơi quanh vai, cổ. Trân trọng cô như một vị tổ sống của nghề, ban tổ chức mời cô thắp nhang khai lễ. Nói chuyện với mọi người, cô vẫn đau đáu làm sao xây Ký Nhi Viện để con em nghệ sĩ có chỗ yên tâm học hành, kẻo mẹ cha nổi trôi nghề hát, con cái thất học theo. Trong cõi nhớ của cô, sân khấu vẫn đang là những năm 50, 60.. với những gánh hát còn là ghe hát, nghệ sĩ sống đời dọc đường gió bụi, đêm áo mão xênh xang, ngày lâm thâm khấn vái ông trời đừng chơi ác mua giàn... Nói chuyện một hồi, quên, cô lại đòi ra thắp nhang khai lễ, và mọi người lại dìu đỡ cô ra dù buổi lễ đã xong quá nửa. Giữa khói nhang mờ ảo, tôi hiểu người nữ nghệ sĩ ấy đã chọn con đường quên để sống. Trong cõi quên ấy, hẵn cô đã xóa rồi, cái ngày cô quyết định không đồng ý cho nhục thân người vợ, cũng là một nghệ sĩ khác, được táng kề nấm mộ người nghệ sĩ chồng mình.

Nhìn dáng thanh mãnh của cô trong tà áo dài sắc nhã, khuôn mặt rạng rỡ ngó thế hệ trẻ của Nhà hát Nghệ Thuật Hát Bội Thành Phố ra múa Tứ Ðại Thiên Vương, chúng tôi hiểu người yêu của cô - như cố nghệ sĩ Thanh Nga đã trả lời - có tên là Nghệ Thuật.

Cũng trong cùng bài phỏng vấn đó, Thanh Nga cho biết, điều cô sợ nhất, thậm chí coi là kẻ thù nữa, đó chính là Thời Gian. Riêng cô đào hát ngày xưa và là người Nghệ Sĩ Lão Thành bây giờ, sau lần cô liệm đi ba ngày rồi trở lại cõi thế cùng nhiệt huyết nguyên vẹn với nghề mà mãi bây giờ chúng tôi vẫn chưa tìm được người thay để làm lá cờ đầu cho Sân Khấu, luôn tạo cho chúng tôi cảm tưởng rằng cô không hề biết sợ Thời Gian.

2. Có ai ở Việt Nam sang, đi ngang một nhà hàng nằm ở góc đường gần khu Bolsa, sẽ ngạc nhiên không ít khi gặp một đạo diễn lừng danh một thời ở trong nước, nay an nhàn với tuổi già, thỉnh thoảng ghé đó, phụ một tay cho vui ngó hàng giúp con giúp cháu. Ông cũng là thầy của bao thế hệ đạo diễn tài năng trong nước. Nhìn đời của nhiều tiền bối đi trước lẫn đời mình, ông cho rằng tài năng là hệ lụy của những thân phận.

Như một số phận, ông là một đứa bé bị đẻ rơi khi mẹ ông cố nán ở lại chỗ chồng đang dạy học để coi cho hết đêm hát. Cha rời nhà vô bưng biền đi kháng chiến, mẹ ông ngày nào cũng bị Tây bắt tra hỏi nên bà phải đùm túm ba đứa con nhỏ vào khu, thoát chết trong gang tấc với tầu tuần của Pháp. Bẩy tuổi, mẹ mất, cha ông đốt căn nhà lá bà con che cho ở tạm để kéo mấy đứa con nhỏ lang thang với mình. Sau một trận càn, phải một mình chèo xuồng qua khúc sông đầy xác Tây lẫn xác dân thường chưa vớt kịp. Trăng sáng soi rõ từng thân thể úp sát be xuồng,cậu bé chưa tới mười tuổi đầu chỉ thèm mẹ còn sống để được trấn an mình bằng hai tiếng “Má ơi!”.

Sau nầy có lúc đóng vai đứa nhỏ bị má bắt đánh đòn, người diễn viên nhỏ được chứng kiến cảnh người bảo vệ dùng roi tre để ngăn một đứa bé đứng dưới hố, gác đầu vào bờ đất để xem vở ấy. Cả người quất roi và người bị quất đều vừa cười vừa khóc nhưng mắt không rời lớp kịch có thằng bé bị đòn. Sau nầy, trong Hồi ký ông ghi: “trong vai thằng bé đang nằm dài để chịu đòn, nhìn thấy cảnh đó, cổ họng tôi như nghẹn lại, trái tim tôi quặn đau.. Tôi đã khóc cho em bé khán giả dưới kia, khóc cho nhân vật thằng bé trong tôi, và tôi cũng khóc.. cho tôi”.

Là một trong những học trò của ông, trước khi sang bên đây sống, tôi đã kịp tham gia làm chương trình riêng cho ông, gọi ông là “người của những thân phận”. Số lượng nghệ sĩ muốn tham gia quá đông, với khoảng ba trăm vở, hơn ba ngàn nhân vật do ông đầu tư, dàn và viết thêm những lớp độc thoại bổ sung cho tác giả, thật khó cho công việc tuyển chọn lại. Những ngày cuối, nghệ sĩ Hồng Nga còn ở nước ngoài không tham gia được, tôi tiếc cho thân phận người mẹ đó quá nên đã cố học vai để được diễn. Ngồi chờ đến lượt đóng một phim khác, đem lời của vai nầy ra học, nước mắt bỗng trôi ra không ngăn được, đến độ chung quanh ai cũng ngạc nhiên, tưởng tôi gặp “vấn đề về thần kinh”. Có gì đâu, chỉ từ một người đàn bà bán chuối dạo có thật, bị chồng bỏ, đã nuôi được mấy đứa con vào được đại học - mà người thầy của chúng tôi đã chứng kiến từ lúc tụi nhỏ còn được xếp ngồi gọn trong lòng xe ba bánh đẩy. Tên vở là “Lặng lẽ khóc cười”. Mắt khóc nhưng thâm tâm tôi lại có nỗi hân hoan mới khi thấy mình có thể bổ sung vào danh sách các vai diễn của mình, người phụ nữ đã vượt qua những bất trắc vô thường do người đàn ông - đặc biệt người đàn ông mình yêu - để lại.

Người thầy của chúng tôi đã từng được báo chí trong nước và đồng nghiệp đặt cho danh xưng “Ðạo diễn ấm áp”, “Cây đàn muôn điệu”, “Lão Phù Thủy”. Dĩ nhiên để có được những danh xưng đó, trong nhập nhoạng khói hương của hậu truờng sân khấu, đời cũng xả xuống lưng ông vài nhát, có khi chính từ những cọng sự thân thiết với mình. Ông hiểu hơn nổi đau đời của người sáng tạo cũng là ân huệ do nhân gian ban cho từng số phận mà không phải ai muốn cũng được.

Giờ đây, sang đây nhưng nỗi nhớ nghề vẫn âm thầm ngun ngút tro than trong ông. Cũng may cô con gái đầu là nghệ sĩ Mai Phương đã tạo nhiều thuận lợi cho ông được “hành nghề”. Vở “Ngôi nhà không có đàn ông” của tác giả Ngọc Linh đã được ông “hải ngoại hóa” và dựng lại cho dàn diễn viên ngôi sao tại đây đang chờ ngày ngôi rạp mới hoàn thành để ra mắt. Còn được làm nghề, đạo diễn Ðoàn Bá vẫn cho rằng mình hạnh phúc hơn biết bao người đồng tuế.

3. Lâu lắm rồi chúng tôi mới được nghe lại “Áo anh sứt chỉ dường tà”, “Ðôi mắt người Sơn Tây”.

Cậu ca sĩ trẻ nầy nói trước công chúng rất vụng về, không được hay như khi cậu hát, dù rất chân thành. Cậu tâm sự với khán giả rằng cậu đã được nghe và mê dòng nhạc nầy khi còn nhỏ xíu, vì gần như mẹ cậu ru cho câu ngủ bằng loại âm nhạc có một thời bị cấm phổ biến nầy. Ði học Ngoại thương, cậu có mơ nhưng không tưởng tượng nổi có lúc mình là người được giao phó cho việc trình bày những mẫu nhạc nầy cho Hội Ðồng thẩm định để cấp phép. Ðược cho phép rồi, cậu lại là người được hát với công chúng đầu tiên.

Khi nghe cậu hát, có lẽ vì những ký ức tâm trạng riêng tư giữa chúng tôi và gia đình mẹ của cậu - tôi là học trò của một người dì của cậu và là bạn ngang lớp với một người cậu của Tuấn - tôi cảm được chàng trai nầy đã gồng gánh trên vai mình một nỗi trầm luân nào đó. Có thể đó là cái chết của người thân nầy, sự mất tích của người thân kia. Cậu của người ca sĩ trẻ nầy là tay vợt hạng nhất thiếu niên toàn miền Nam những năm bẩy mươi ở tuổi chưa tới hai mươi đã bỏ xác đâu đó trong lòng biển, còn bà ngoại của cậu đã ra đi trong một cái chết khá thảm khốc trong những ngày thị xã ấy có chiến dịch đánh tư sản. Một quá khứ khá nặng đè trên vai chàng trai hai mươi bẩy tuổi. Có vẻ như bằng giọng hát đầy nam tính của mình, cậu đã vượt được hệ lụy của thân phận, vượt được những khói sương khỏa lấp đời mẹ cha rồi đến cuộc đời chính mình.

Ðược biết “Ðôi mắt người Sơn Tây” của nhà thơ Quang Dũng không phải là của hai người phụ nữ - hai nàng thơ, trong cuộc đời thi sĩ, mà lại là của chàng thanh niên mà Quang Dũng đã được gặp ở vùng Sơn Tây. Cách đây đâu khoảng bẩy mươi năm, cùng với những Hữu Loan, Văn Cao, Trần Dần, Tô Hoài, Phùng Quán.. , người thi sĩ ấy cùng bạn bè của ông đều còn rất trẻ, trẻ hơn cả chàng ca sĩ trẻ tên Ðức Tuấn nầy, chỉ khoảng trên hai mươi một chút, họ đã lao vào khói lửa chiến tranh với một tình yêu tha thiết, mối tình lớn cho quê hương đất nước, bấp chấp những sương mờ khói tỏa, ngăn họ đến, sống, và sáng tạo, trong cõi đời nầy
Tags: | Edit Tags



Monday July 13, 2009 - 08:50pm (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for July 13, 2009

Previous Post: Entry for July 12, 2009

Comments(1 total) Post a CommentMAP M Offline Em xin phép được comment cuối ở đây trong ngày cuối của Yahoo!360 cho entry của chị :giữa sương và khói của son phấn nghi trang lộng lẫy , của óng ả trang phục sàn diễn , của những cười khóc màn nhung là những đóng góp rất thực cho đời của những nghệ sỹ này ...
Làm nghệ sỹ , thành nghệ sỹ ... ai cũng hiểu là phải mang hết một kiếp tằm mà trả nợ dâu . Người nghệ sỹ tự gặm nhắm những biển dâu đời mình - không những thế , cả biển dâu của người - rồi xay xát , rồi nhào nặn rồi vắt kiệt nó ra thành những mảng tinh tế của nghề ...quay trở lại như một vòng tròn vay trả , những vai diễn đó mang đến cho họ ánh hào quang danh vọng , trả cho họ những cuộc vui xưng tụng ngất trời ... mang đến cho họ thênh thang ngựa xe …
Song tận trong lòng họ và cùng chung số phận , cả trong lòng chị nữa , đều hiểu : Cuộc sống thực ngòai kia đã lấy đi của họ một cuộc đời …
Cái cuộc đời nhiều khi yêu ghét cũng hư vô …


Monday July 13, 2009 - 10:28pm (ICT) Remove Comment

Labels:

Giữ mặt cho đời

Entry for July 12, 2009
http://www.phunuonline.com.vn/giaitri/2009/Pages/Giu-mat-cho-doi.aspx

Vĩnh biệt NSND Phùng Há: Giữ mặt cho đời 07/07/2009 10:09

Bài viết gần đây nhất mà tôi gửi cho Báo Phụ Nữ là Kỷ lục đời người, nhân mừng thọ NSND Phùng Há 99 tuổi. Ấy vậy mà chỉ hơn hai tháng sau, tôi lại ngồi gõ những dòng chữ đầu đề "Vĩnh biệt NSND Phùng Há”. Học giáo lý Phật, cố gắng thấm nhuần cái triết lý vô thường, vô ngã kia, nhưng sao đứng trước sự thật này, cái khoảng cách mong manh, bất chợt giữa sinh – tử vẫn khiến tôi thất thần, hụt hẫng và đau đớn...
Nhớ một trong muôn vàn chuyện cũ, hồi còn ở đoàn Dạ Lý Hương, sau suất hát Yêu người điên vào tối thứ sáu, tôi đang vội vội vàng vàng chùi lớp phấn son để kịp cùng bạn bè lên Đà Lạt nghỉ ngơi thì bất ngờ, má Bảy đứng ngay sau lưng tôi. Bà nói nhẹ nhàng: "Nghề mình có mỗi cái mặt, tối nào cũng phải son phấn lên nên con nhớ lau chùi kỹ kỹ chút, nhẹ nhẹ tay thôi. Giữ cái mặt cho nghề, cho đời để còn hát, còn trả ơn khán giả nghe con...".

Cũng may mà má "phát hiện" sớm nên từ đó, tôi đã biết nâng niu hơn, chăm sóc hơn gương mặt của mình. Trước mỗi suất hát, trang điểm kỹ đã đành. Màn đóng, tôi lại tẩy rửa kỹ càng hơn. Tựa như ông thầy đờn trả lời khi tôi hỏi vì sao ngày nào sau đêm hát ông cũng xuống dây đờn: "Không xuống, bây để dây lên hoài, đêm mai nó căng nó đứt à. Mình biết nghỉ thì đờn cũng biết nghỉ chứ con...".

Nhưng khi đã đặt chân vào chốn... danh trường, bạn nào chỉ giữ khuôn mặt mình cho một đêm hát, có khi là cả một đời. Bởi, gương mặt không chỉ riêng là danh dự, vị trí, nhân cách của bạn, nó còn thuộc về trách nhiệm với công chúng, với cả sự khen – chê, yêu – ghét hồn nhiên và... thất thường nữa. Gương mặt hóa ra lại là bóng dáng của trái tim, của khối óc, của những lời nói, hành vi, ứng xử... trong nghề, trong đời.




Hai thầy trò đang ra bộ nhân vật Lữ Bố

Mới đây thôi, bà chắc lưỡi bảo: "Làm nghề hát, may lắm mới gặp được người vừa thương mình, hiểu nghề để chấp nhận cho mình, con hả?". Cũng chính vì "giữ mặt" cho nghề, cho khán giả mà bà cự tuyệt mối tình với người thầy, người tri kỷ năm xưa. Bà lập luận cho chính nỗi đơn độc của mình: "Đêm qua, mình hát tuồng dạy người ta giữ chung thủy, son sắt thờ chồng. Sáng ra mình lại đi giựt chồng người khác. Ai coi cho được hả con. Má thà để ông Năm trách còn hơn phụ lòng khán giả...".

Lần Hội Sân khấu tổ chức buổi tiệc nhẹ sau khi tôi bảo vệ luận án tiến sĩ, giữa bao nhiêu lời chúc tụng, má Bảy đã hướng về phía chồng tôi, nói: "Tôi thay mặt Bạch Tuyết và biết bao nhiêu nghệ sĩ xin có lời cảm ơn cậu Chales Đức, một người chồng vừa chấp nhận cho vợ theo nghề, vừa mong mỏi cho vợ bồi đắp tri thức... Không phải ai cũng làm được điều đó”. Tự nhận mình "không nhiều chữ nghĩa" nhưng từng hành vi, nghĩa cử của bà luôn trọn vẹn trước sau, là vậy.

Hơn nửa đời người, tôi ghi nhớ bài học sau đêm hát năm nào, để đến đêm 4/7, rạng ngày 5/7, khi trời chuyển về sáng, tôi ngồi đây, ôm lấy gương mặt thanh thản của bà, nhẹ nhàng, kỹ lưỡng, ân cần thoa lên đó một lớp phấn nhẹ, tô chút son hồng, kẻ lại đường chân mày, mí mắt. Sinh tiền, ngay cả khi đang bệnh nặng, bác sĩ lập tức có mặt để khám, bà vẫn thều thào bảo: "Cho tôi sửa soạn lại một chút rồi hãy mời bác sĩ vào. Mình là nghệ sĩ, để mặt mày, tóc tai vậy là không được với khán giả...". Giờ, khi bà đang thực hiện một chuyến lưu diễn xa, lẽ nào lại không điểm lại chút phấn son để giữ cái nhan sắc nghệ thuật này mãi mãi cho đời, cho người...

NS Bạch Tuyết

UBND TP.HCM tổ chức tang lễ NSND Phùng Há

NSND Phùng Há tên thật Trương Phụng Hảo, sinh năm 1911 tại Mỹ Tho (Tiền Giang), mất lúc 0 giờ 30 ngày 5/7/2009, thọ 99 tuổi. Lễ tang của NSND Phùng Há sẽ do UBND TP.HCM, Liên hiệp Các hội VHNT TP.HCM và Hội Sân khấu TP.HCM tổ chức tại Nhà tang lễ TP.HCM. Ông Lê Hoàng Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy TP.HCM, Chủ tịch UBND TP.HCM, làm trưởng ban lễ tang.

Bà đã được Nhà nước trao tặng Huy chương Vì sự nghiệp văn học nghệ thuật VN, Huy chương Vì sự nghiệp sân khấu VN. Lễ viếng từ 8g ngày 6/7 tại Nhà tang lễ TP.HCM, đến 10 giờ ngày 8/7 sẽ di quan về chùa Nghệ Sĩ (Q.Gò Vấp). Lễ truy điệu và an táng vào lúc 7g ngày 10/7 tại nghĩa trang Nghệ Sĩ, Q.Gò Vấp, TP.HCM.

Ban tổ chức lễ tang có chuẩn bị vòng hoa luân lưu để viếng. Kính đề nghị các đơn vị, cá nhân chuyển tràng hoa phúng điếu thành tiền để gây quỹ từ thiện theo tâm nguyện của NSND Phùng Há.


baobaost(07/07/2009)Mình biết ngày này sẽ đến, và mình cũng biết là khó có ai thay thế bà Phùng Há, cũng như ngày xưa, mất bà Bảy Nam mình đã rớt nhiều nước mắt... Nhưng bài viết này hình như cô Bạch Tuyết khen cổ nhiều hơn....

Labels:

Thế giới làm gì trên sân khấu?

Entry for July 06, 2009
Chuyên đề: Thế giới làm gì trên sân khấu? (Bài cuối)Thứ Tư, 06/05/2009 06:00 http://www.thethaovanhoa.vn/326N20090429104716509T133/san-khau-aau-va-nhung-v...
Sân khấu Á - Âu và những vấn đề thời sự Sân khấu Bắc Mỹ: Trăm hoa đua nởTừ Broadway, Of-Broadway, Off-Broadway đến sân khấu Sài Gòn(TT&VH Cuối tuần) - Trên sân khấu các nước Âu châu chúng tôi đã có dịp xem qua là Anh, Pháp, Đức và các nước Bắc Âu, rõ ràng có các phong cách khác nhau cho dù có một số kịch bản được sử dụng chung. Sân khấu Pháp dùng nhiều kịch bản dạng phi lý, như kịch của Samuel Bekett, Ionesco, Pirandello… không cần cốt truyện. Trong lúc sân khấu Đức đa phần chuộng loại có câu chuyện có thể kể được.
Bertolt Brecht kịch tác gia Đức, người có ảnh hưởng lớn đến nhiều nền sân khấu, trong đó có Việt Nam.
Tẩy rửa là một trong những vở hay chúng tôi được xem ở Berlin. Nhà viết kịch người Anh Sarah Kane viết vở ấy khi mới 23 tuổi và tự tử hai năm sau đó mà theo những bạn bè của cô cho biết thì hình như cô không chịu nổi áp lực khi thành công đến quá sớm. Chuyện kể về một cô gái đến một bệnh viện để xin lại bộ đồ của người anh vừa mất. Giám đốc ở đó là một tay bệnh hoạn, bất lực. Ông ta cắt tay, xẻo lưỡi, xén chân nạn nhân mỗi khi bắt gặp quan hệ tình cảm bất thường của những người đồng tính trong khi bản thân mình lén lút đi xem cô gái múa cột để thỏa tính “thị dâm”. Muốn nhập thể xác (mà quên phần tâm linh) của hai anh em cô gái vào một, ông ta cho chuyển đổi giới tính của cô gái. Vật thể vô hồn tổng hợp hai anh em cô gái ở cuối vở gợi nhớ đến những việc làm trái quy luật cuộc sống, những đất nước, con người bị cắt lìa, tách nhập một cách tàn bạo, phi nhân thay vì tạo ra cách để họ có thể sống chung hòa hợp cùng nhau. Ảnh hưởng của nhà viết kịch Bertolt Brecht vẫn còn thấy rõ qua các vở tưởng như chống lại cách đặt vấn đề của ông. Nhưng hệt như quy luật “phủ định của phủ định”, càng chống Bertolt Brecht, rồi chống - chống Bertolt Brecht, chống - chống - chống Bertolt Brecht, chúng ta càng thấy sân khấu Đức vẫn chưa thoát khỏi cái bóng quá lớn luôn yêu cầu lật ngược mọi vấn đề của Bertolt Brecht...Khỏi phải nói, ai cũng biết cái bóng của Shakespeare hiện diện rõ nhất ở sân khấu Anh. Có một đêm ở London vào những năm cuối thế kỷ trước có đến sáu vở Giấc mộng đêm hè, mà một trong sáu vở đó đến từ Nhật và diễn bằng tiếng Nhật. Nước Anh, nơi tưởng chừng rất bảo thủ với những chiếc xe bus hai tầng đỏ chói, những căn nhà xám xịt, vẫn bùng nổ được những The Beatles khuấy động cả toàn cầu. Sân khấu đó có những vở kinh điển lớn nằm kề những vở thể nghiệm nhỏ với sức bùng nổ khó lường. Đặc biệt loại hình sân khấu giáo dục sử dụng sân khấu như một phương cách để góp phần hình thành nhân cách con người rất được phát triển ở Anh. Những giáo viên của loại sân khấu này đi đến nhiều nước thuộc thế giới thứ ba để phổ biến loại hình sân khấu ấy như đi “truyền giáo”. Điều này không phải dễ khi chính họ ý thức được rằng các nước độc tài rất sợ loại hình sân khấu giáo dục. Chúng tôi đã được xem một đạo diễn 22 tuổi của Anh dựng vở Vua Lear bằng phương pháp này. Diễn viên của vở là những con người lưu lạc từ nhiều nước sống trong một trại tỵ nạn. Trong vòng kẽm gai, khán giả của họ chỉ là hai anh lính gác mặt vô hồn nhai nhóc nhách kẹo cao su. Tiếng động của trận bão đảo lộn đất trời được tạo ra từ một miếng tôn nilon rách nát. Vài đạo cụ bị diễn viên quá tay làm văng ra khỏi vòng kẽm gai được nhặt cho vào trong ngay lập tức cho thấy đồ vật còn không thoát khỏi những ràng buộc huống hồ con người. Chưa định hồn với kết thúc của Shakespeare, lệnh dời trại được công bố, những con người mới là vua, tướng, công chúa, quan quân đó lại phải trở về kiếp tị nạn, bồng bế nhau lếch thếch lên đường. Khán giả được mời tham gia theo từng đoạn cao trào với hy vọng cuộc đời chính họ rồi sẽ không bị diễn ra với những khuôn mặt vô hồn canh gác như vậy. Năm 2001, Roger Chamberlain, một đạo diễn người Anh đã đến Việt Nam và cùng dựng với chúng tôi vở Romeo và Juliet theo cách làm tương tự khi cho diễn viên đóng vai những trẻ em đường phố tụ tập lại làm vở kịch này để cùng với khán giả trả lời ba câu hỏi: “Tuổi trẻ hôm nay gặp khó khăn gì? Có vượt qua được không? Và vượt qua bằng cách nào?”.Tác phẩm của Bertolt Brecht
Các nước Bắc Âu gần với sân khấu diễn đàn hơn, đó là loại sân khấu chuyển quyền quyết định đoạn kết của vở về phía khán giả. Họ luôn đưa ra những kết thúc bi thảm “vô hậu” rồi kêu gọi khán giả rời cái ghế của mình bước lên sân khấu để thay đổi các kết thúc khá hơn với hy vọng khi không còn là khán giả họ cũng sẽ giải quyết mọi việc theo chiều hướng tích cực hơn trong đời sống.

Tất cả loại sân khấu này không để doanh thu mà cần sự trợ giá tối đa của nhà nước. Geoff Gillham, một “kiện tướng” của sân khấu học đường của Anh, từng đi khắp nước Anh, các nước châu Phi, Đông Âu cũ, và cả Việt Nam để phát triển loại hình sân khấu này, ông than phiền nhà nước chỉ muốn đổ tiền vào cho các xuất phẩm có đóng dấu Shakespeare cho giai cấp thượng lưu nhiều chữ chứ không quan tâm đến loại sân khấu dành cho những người chân đất. Không chịu nổi hiện tượng các khán giả (trẻ) thụ động trong lúc đi xem kịch, ông mãnh liệt tin rằng sân khấu đủ mạnh để giúp cuộc sống nhân bản hơn và là nguồn động lực thay đổi thế giới. Nếu căn bệnh ung thư không cướp đi cuộc sống của ông vào năm 2001, ông đã giúp chúng ta phát triển sân khấu như một cái đạo của ông ở đây, trong đó có cả việc tổ chức một hội diễn sân khấu giáo dục thế giới tại Hà Nội.

Cùng niềm tin với Geoff nhưng vẫn dùng cách kể chuyện bình thường có Ratna Sarumpaet, tác giả kiêm đạo diễn vở Cô điếm và ngài tổng thống, vở diễn bế mạc Đại hội phụ nữ viết kịch toàn thế giới lần thứ bảy tại Jakarta, Indonesia năm 2006. Khi mang vở này đi lưu diễn toàn quốc, đôi khi chính quyền địa phương phải cho xe tăng để bảo vệ nữ tác giả. Nhức nhối trước con số quá lớn trẻ em phải sớm trở thành gái điếm và bị buôn bán trong nước mình, cô viết vở này với màn mở đầu là cảnh cô điếm trẻ bắn chết viên bộ trưởng đáng kính thuộc đảng cầm quyền khi đang trong mùa bầu cử tổng thống. Cuộc đời cô điếm được kể lại song song với những cuộc thương lượng hậu trường chính trị mà đoạn ấn tượng nhất là cảnh viên chức sắc tôn giáo vào ngục giúp cô xưng tội trước giờ thực thi án tử. Cuộc song thoại xảy ra, lời kinh Koran cứ được đọc đều đều, bất chấp những câu hỏi: “Khi tôi bị bán đi ở tuổi lên năm, ông ở đâu?” - “Khi tôi thành đàn bà ở tuổi 13, ông ở đâu?” (tiếc là khi được in thành sách, không có đoạn kịch này). Tuy vậy, viên chức sắc lớn nhất của Hồi Giáo tại Indonesia đã đến tặng hoa cho Ratna sau khi xem vì trân trọng người phụ nữ viết kịch vào tù ra khám và bị đốt nhà từ đời Tổng thống trước.Những vở của Bertolt Brecht vẫn luôn được dàn dựng lại trên sân khấu khắp thế giới
Cũng ở những đại hội tương tự, chúng tôi cũng biết được ít nhiều sân khấu vài nước Á Phi qua các tác giả tiêu biểu đến dự. Khó khăn nhất là những nhà làm kịch phụ nữ ở Afghanistan, có thể bị giết thời Taliban, nhưng nhìn chung các tác phẩm sân khấu của các nước thuộc thế giới thứ ba vẫn là phản ánh các trăn trở về những vấn đề nóng đang xảy ra ngoài xã hội. Pornrat Damrhung ở Thái Lan đưa lên sân khấu những nàng Sita thời hiện tại, cũng để phản ánh tệ nạn buôn người, đẩy người phụ nữ thành món hàng buôn bán tại những thành phố phát triển về du lịch tại quê hương bà. Athol Fugard, một tác giả ở châu Phi viết Nơi chốn cùng lợn với ba nhân vật, cô vợ cùng hai anh chồng mới, cũ. Cô vợ vừa nhận các huân huy chương tưởng thưởng từ sự hy sinh anh dũng của người chồng cũ khi đang chung sống với chồng mới thì “người chết” trở về. Để giữ uy tín cho cộng đồng đang sống, anh chồng cũ đành chấp nhận để vợ giấu mình trong chuồng heo và lén lút ra thăm.

Những nhân vật, mối tình lãng mạn, các xung đột quen thuộc trong các vở cổ điển, nhiều chất vấn về sự phi lý của cuộc đời, vẫn tồn tại song song với những trăn trở về nhịp sống ngổn ngang thời toàn cầu hóa với các mặt xấu tốt của nó trong các vở mới sáng tác trên sân khấu các nước Âu, Á, Phi. Và những gì được chứng kiến, được trao đổi với các đồng nghiệp của mình từ nhiều nơi trên thế giới vẫn giúp chúng tôi khẳng định niềm tin này “nghệ thuật sân khấu, lẽ ra, thuộc về trí tuệ”, như câu phát biểu của biên đạo múa Ea Sola khi tiếp cận sân khấu nước nhà.

Nguyễn Thị Minh NgọcTags: | Edit Tags



Monday July 6, 2009 - 08:45am (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for July 08, 2009

Labels:

Những Vấn Ðề Của Sân Khấu Bắc Mỹ.

Entry for May 02, 2009
Tang Minh bai nay, khan gia nhiet tinh hon ca hai chu Nhiet Tinh cua chung toi o NY.

Những Vấn Ðề Của Sân Khấu Bắc Mỹ.


Khi trao đổi với các bạn đồng nghiệp làm sân khấu ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả trên nước Mỹ, họ có vẻ không mặn mà với sân khấu Broadway lắm. Với họ, loại kịch nghệ thuật chỉ có thể tìm ở off - Broadway. Còn những vở nhạc kịch đầu tư nhiều tiền, cần những diễn viên tinh luyện cả về múa, hát và diễn như ở Broadway thì dành cho du khách, hay những khán giả dư tiền, mà trong lúc kinh tế đang khó khăn như thế này, những khán giả trước đây phải khó khăn mua được một tấm vé ở Broadway nay có thể rất dễ dàng tìm mua được đôi khi chỉ còn nửa giá. Thử ngó xem kịch mục của sân khấu Broadway hiện còn những vở cũ nào và có thêm được vở nào trong mùa này. Có tuổi thọ dài nhất ở Broadway đến hôm nay vẫn là “The Phantom of the Opera”, sau đó là “Lion King”, “Chicago”.. những vở này cũng như “Billy Elliot”, “Mamma Mia”, “Mary Poppins”, “The Little Mermaid”,“Wicked, “Shrek”, “Boys and Girls”, bạn dễ dàng tìm xem ở những cuốn film hay sách cùng tên dù bằng ngôn ngữ nghệ thuật khác.

Ngó sơ qua những cái tên như “Vua Sư Tử”, “Nàng Tiên Cá”, “Bà vú Mary Poppins”, “Gã chằn tinh tốt bụng Shrek”, “Cậu bé Billy Elliot”.. bạn có thể thấy đó là những tiết mục mà người lớn có thể cùng đi xem với trẻ con trong nhà. Mà đã có trẻ con thì các yếu tố gợi dục, bạo lực chắc chắn là không có. Ngược lại, nơi đó luôn yêu cầu một thẩm mỹ cao, gây được cảm giác thần tiên bay bỗng càng tốt; loại thẫm mỹ cổ điển mà thậm chí nhiều người cho là cứng ngắc, xưa cũ. Như nhiều film Mỹ khác, đa số những vở diễn này thường có các kết thúc có hậu.

Năm 2003, một trong những vở nằm trong Top Ten của Broadway là “Man of La Mancha”. (Kịch bản này được làm film vào những năm 60 với cô đào Ý( Sophia Loren.). Nhà viết kịch Cervantes bị liệng xuống nhà ngục xây âm trong lòng đất cùng với chiếc rương chứa mới bản thảo của ông. Họ nhốt chung ông với những người dưới đáy xã hội, lưu manh, gái điếm. Dưới chân tầng ngục đó vẫn còn tầng thấp hơn. Trong lúc những người ít chữ đang lục tung chiếc rương, giễu cợt ông, người còn đầy ảo tưởng với mớ chữ của mình thì dưới chân ông vẫn còn những bàn tay chồm lên níu chân ông như muốn chất vấn ông sao đời họ phải chìm trong đáy ngục. Tập hợp những người cùng khổ, kẻ cướp, gái điếm lại, mời họ làm diễn viên kiên khán giả để tập vở “Don Ki Khốt” mà chính ông lãnh vai chánh, Cervante đã dựng tác phẩm tâm huyết của mình trong một tâm thế đầy tuyệt vọng. Quá trình dựng vở cũng là quá trình ông bị bầm dập bởi những người mà ông đã sống chết để viết cho họ. Khi vở dựng gần xong, ông chỉ còn chút hơi tàn trong cơn hấp hối. Rồi như không đành lòng truớc những giọt nước mắt của khán giả (trong đó, phải nhận có cả tôi), Cervantes bật dậy, múa ca lần cuối trong trận sống chết với các kẻ thù ảo mà khí giới của ông chỉ là một trái tim trần trụi và một nỗi đau đớn thật. Khán giả ra về với nụ cười nhưng có lẽ ít nhiều họ cảm thông hơn với những nhà viết kịch, khi phải sống trong những hoàn cảnh khó khăn đôi khi hơn cả ngục tù, phải kìm nước mắt lại vào trong để cái trào ra ngọn bút của họ phải là những điều gì đó không chỉ đơn thuần là giải trí.

Một vở làm nơi đây khá tốn kém nên các nhà sản xuất rất muốn vở diễn mình được an toàn và sống lâu khi ra công chúng. Hiện tại, một kịch bản musical về cuộc đời của Lý Tiểu Long (Bruce Lee) đang tuyển diển viên cho mùa kịch tới tại Broadway.

Như đã nói, bạn cần phóng túng trong nghệ thuật, cần đưa ra những vấn đề gây shock, bạn nên kiếm một sân khấu khác ngoài Broadway, đôi khi cách đó chỉ vài bước. Các bạn của tôi là diễn viên ở nhiều thành phố ở Bắc Mỹ cho biết họ vẫn dựng lại các tác giả nổi tiếng của thế giới và của Mỹ như Shakespear, Chekhov, Ipsen, Samuel Becket, Arthur Miller, Thornton Wilder, Eugene O’Neill, Tennessee Williams, Edward Albee. Dĩ nhiên, họ hiện đại hóa những câu chuyện cũ. Một số vở kịch mới sáng tác còn có khuynh hướng mượn những nhân vật xưa để nói những vấn đề đương đại của cuộc sống quanh họ như quan điểm chính trị, tự do, nổi loạn, giới tính, nữ quyền,

Chúng tôi vừa được xem một vở kịch hát thú vị khai thác ba tầng kịch (kịch trong kịch trong kịch) mang tên “A Man of No Importance”. Vở nầy đã từng đoạt giải nhất năm 2002 của những nhà phê bình cho sân khấu Off- Broadway. Nhân vật chính là Alfie, một người soát vé trên xe bus ở Dublin vào những năm 60, thường đọc thơ cho các hành khách của mình và có ý muốn dựng vở kịch “Salomé” của Oscar Wilde. Ngay trong nhà, anh bị người chị là một cô gái già kiểm duyệt, ra ngoài xã hội, các chức sắc tôn giáo cũng lên án vở kịch ấy, họ cho đó là một vở kịch bẩn thỉu được viết bởi một tác giả đồng tính chứ không phải nghệ thuật như anh biện minh. Người độc nhất có thể chia sẻ với anh lại là linh hồn của Oscar Wilde. Cuối vở kịch đời mình, anh bị đánh bầm mình bởi người cùng giới, thân phận đồng tính của anh bị bộc lộ, anh mất việc, vở kịch không còn đất diễn vì nhà thờ không cho mượn sân khấu. Giữa lúc tuởng chừng tuyệt vọng nhất thì chính những hành khách yêu thơ, cậu bạn anh thầm yêu, dùng những câu thơ Oscar Wilde để vực anh dậy. Và khán giả tin sẽ có một sân khấu khác dành cho họ, những người rất không quan trọng, nhưng luôn mong đời sống sẽ là những cảm thông với những điều trái thường để sống được.

Vở “Moliere” của Sabina Berman, nhà viết kịch hàng đầu của Mexico do Richard Rose mà chúng tôi vừa được xem ở nhà hát Tarragon ở Toronto cũng là một vở kịch thông minh, được nhiều nhà phê bình ngợi khen. Nó đạt được điều mà những ai làm sân khấu ở bất cứ nơi đâu cũng mơ ước: vừa chinh phục bạn nghề, vừa đạt doanh thu cao. Hai nhân vật chính nơi đây là hai nhà viết kịch hàng đầu về hài kịch (Moliere) và bi kịch (Racin). Trong lúc Moliere đã đạt tới đỉnh cao của danh vọng khi được nhà vua trọng vọng lẫn sự thù hận của những kẻ thấy bóng mình thấp thoáng trong các nhân vật phản diện trong các vở kịch hài kịch của ông thì Racin mới bước vào nghề. Ðể có thể làm người viết kịch cho triều đình, thay thế chỗ của người đi trước và cũng là thầy mình, Racin đành chấp nhận phản bội, nhận lời với viên Tổng Giám Mục bắt tay vào việc hại thầy. Một trong những lớp kịch hay là đoạn đánh cá của nhà vua và viên tổng giám mục trước khi được xem Moliere giúp vui cho họ. Họ biết rành cuộc đời ông đang gặp quá nhiều thảm kịch, sức khỏe báo nguy, gánh hát sắp mất, mất cả tình yêu, học trò.. thế lát nữa ra sân khấu liệu có khả năng gây cười được chăng. Vua bắt độ là tay hề cung đình này sẽ phải làm tốt công việc của mình. Quả nhiên, nhà vua thắng. Qua vở diễn, còn nhiều tranh cãi về cái bi, cái hài, điều gì sẽ cứu chuộc, thanh tẩy con người hơn; nhưng qua vở diễn cũng có nhà phê bình thấy đề tài này không chỉ đơn thuần nói về những người sáng tác cho sân khấu mà họ cảm nhận được bàng bạc đâu đó không khí của thời khủng hoảng kinh tế hiện tại, các thang giá trị đảo lộn, các chuẩn mục lệch lạc, người đối với người tệ bạc hết nghĩa, cạn tình.

Ba vở diễn vừa kể tình cờ đều có liên quan đến người viết kịch. Có lẽ phải kể thêm những vở khác của các sân khấu nhỏ hơn Off- Broadway. Chúng tôi được xem “The Middle East” của Joe Kodeih viết và dựng ở sân khấu LaMaMa vào những năm mà vấn đề Trung Ðông đang là quan tâm hàng đầu của Mỹ. Vở khôi hài đen này xoay quanh một cô gái và ba chàng trai khác quốc tịch và văn hóa, tôn giáo: Jewwish, Chritian, Muslim. Họ đang thoả thuận một việc kinh doanh mà anh chàng Chritian đứng giữa lúc nào cũng nhắc tới 10% của anh ta. Trước khi hợp đồng được ký, một thân thể bỗng rơi ngay đúng khoảnh đất họ đang đứng. Bất đồng văn hoá lẫn tôn giáo, họ không thể giải quyết vấn đề trách nhiệm lẫn quyền lợi trên cái xác tình cờ đó. Cuối cùng, nhờ một áp lực đến từ nơi cao hơn (có thể là thiên đình) mà một cô gái đứng ra đại diện, hai anh Jewwish và Muslim đành phải xé đôi cái xác. Với anh chàng Chritian vẫn còn ấm ức về 10% chưa được giao nhận cho phần nước bọt của anh ta đã đổ ra, cái phần đàn ông nhất nằm giữa hai chân được bứt ra cho anh. Ba nhân vật kéo ba phần thân thể thuộc phần mình về góc riêng cầu nguyện, hài lòng với những gì mình thâu được rồi đi về ba hướng khác nhau.

Các tác giả trẻ cũng có cơ hội chen chân vào các sàn diễn nhỏ ở các sân khấu có vài ba chữ off trước chữ Broadway. Họ cũng có thể giới thiệu kịch bản của mình trong các buổi đọc kịch. Những vở kịch hiện tại đa phần nghiêng về hình thể và pha trộn với các nghệ thuật khác như múa, điện ảnh, xếp đặt, xiếc, ảo thuật, kịch câm. Tìm đủ mọi các để lôi kéo khán giả tham gia trò chơi sân khấu với mình cũng là một khuynh hướng. Ví dụ như ở vở hài kịch “Shear madness”, cuối cảnh một có một người bị giết, câu hỏi được đặt ra cho những người còn lại, kể cả khán giả là “Thủ phạm là ai?”. Sau nhiều trao đổi, nếu thấy khán giả dồn nghi ngờ vào hướng nào là cả một tập thể diễn viên cho kịch bản kết thúc theo hướng đó.

Còn nhiều điều có thể nói về khuynh hướng “trăm hoa đua nở” ở Sân Khấu vùng Bắc Mỹ. Nhưng dù biến đỗi đến đâu, truyền thống của nó hình như vẫn còn là cho con người và vì con người.

Nguyễn Thị Minh Ngọc.




Tags: | Edit Tags



Saturday May 2, 2009 - 01:38am (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for May 03, 2009

Comments(3 total) Post a CommentJack … Offline IM ôi sao mà hay quá ! ước gì em cũng có cơ hội để được xem những vở như thế này ??? huhuhuhu biết đến bao giờ hả chị Ngọc ơi ! huhuhuhu !!!

Saturday May 2, 2009 - 01:51am (ICT) Remove Comment
Le Rêve Offline Chinh xac!!! sinh vien du hoc nhu em thi tien dau mua ve xem broadway (cai duy nhat duoc di coi la Wizard of Oz), nen chi tranh thu xem nhu vo kich cua sinh vien trong truong hoac do truong dung len, cung khong thua gi Broadway ma co khi duoc xem nhung vo kich hien dai hon voi suy nghi cua tuoi tre bay gio. Hehe, nhung du sao cung muon di xem Broadway, dinh cuoi tuan nay di xem Movin' out o Atlanta de tu tang qua` ra truong, nhung vi con phai thi final tuan sau, nen danh dip khac vay, hic hic

Friday May 1, 2009 - 06:21pm (PDT) Remove Comment
minh Offline em xem Broadway thì giống như xem một lần cho biết vậy, tới giờ chỉ thích nhất mỗi vở "phantom of the opera" thôi, còn những vở còn lại chủ yếu là nhảy múa và hát, trong khi đó thì em lại thích được xem diễn kịch hơn! thực lòng mà nói em thích kiểu ca nhạc kịch của chú Lộc hơn vì nó vừa là kịch nói và vừa là kịch hát chứ không phải là nhạc kịch! phần diễn trong những vở như thế sâu hơn, và xem thấy đã hơn! :)
như em có kể với chị, trường cũ em học có ngành kịch nghệ rất phát triển, và em vẫn nhớ nhung cái thời được đi xem những sinh viên như em diễn những vở ấn tượng mãi không quên được! thích nhất là những vở diễn trong "black box theater" = cái hộp đen - mọi thứ trong đó sơn đen thui, đôi lúc đêm vào đó một mình, nằm ngửa trên sàn nhà nhìn lên trần nhà, thấy vừa thoải mái, thư giãn, vừa sờ sợ... em có đứa bạn nó đóng vai chính trong vở kịch ma "the black woman" - nó đã vào trong cái phòng ấy, ở lại qua đêm và học lời thoại để có thể bắt được cái thần của vở kịch... những người như vậy thật đáng nể đối với em.. em lại lan man rồi hì hì

Tuesday May 5, 2009 - 01:01am (EDT) Remove Comment

Labels:

Làm gì để sân khấu Hà Nội sôi động?

Entry for April 17, 2009
Làm gì để sân khấu Hà Nội sôi động?
--------------------------------------------------------------------------------

Cảnh trong vở "Oan khuất một thời"
của Nhà hát chèo Hà Nội.
ND - Thực trạng của sân khấu Hà Nội đang là nỗi băn khoăn, bức xúc của không chỉ những người làm sân khấu Thủ đô. Song, để tìm được một giải pháp, một hướng đi phù hợp đưa đời sống sàn diễn ra khỏi tình trạng trầm lắng như hiện nay, lại là điều không dễ làm, dẫu đã có rất nhiều xoay trở và vấp váp. Phóng viên Báo Nhân Dân đã trò chuyện và ghi lại một số đề xuất, gợi mở của những người đang trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực sân khấu, hy vọng, góp thêm một tiếng nói trên con đường tìm ánh sáng cho sàn diễn.
PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái: "Sân khấu Thủ đô đang bị đứt mạch kịch trường"
Có một câu hỏi: Ðến bao giờ, người dân Thủ đô mới có thể muốn xem gì cũng có thể lựa chọn, bất kể là loại hình sân khấu tuồng, chèo, cải lương hay kịch? Hiện nay, người xem chưa có quyền lựa chọn, và có lẽ chúng ta nên buông một tiếng thở dài trước tình trạng đó.
Sân khấu Hà Nội hiện cần có các cuộc hội thảo về một vấn đề bức xúc của xã hội thông qua việc xem một vở diễn, tương tự như cuộc hội thảo về vở "Nhà búp bê" vừa được Chính phủ Na Uy tài trợ tổ chức tại Hà Nội cuối tháng ba vừa qua. Việt Nam là nước thứ 14 được hỗ trợ để tổ chức hội thảo về vở kịch này, kể từ khi Chương trình "Lễ hội Íp-xen" được khởi động từ năm 2006, nhân 100 năm Ngày mất nhà viết kịch vĩ đại người Na Uy này. Vở diễn đề cập vấn đề lớn của nhân loại: quyền bình đẳng của người phụ nữ trong gia đình. Dù đã ra đời từ hàng trăm năm, thông điệp vở diễn vẫn nóng hổi tính thời sự. Và từ kinh nghiệm của tác phẩm nghệ thuật này, Chính phủ Na Uy soi chiếu vào những vấn đề xã hội và đã tìm được những giải pháp thúc đẩy sự bình đẳng giới ở Na Uy.
Hay một vở diễn khác mới được diễn giao lưu văn hóa ở Hà Nội, vở "Người tốt ở Tứ Xuyên" của đoàn kịch Nhật Bản. Vở diễn đề cập vấn đề lòng tốt trong xã hội (rất có ý nghĩa với cơ chế thị trường hôm nay): người tốt có lòng, có tiền muốn giúp người chung quanh nghèo đói, thì nên đem cho họ cần câu hay cho xâu cá?
Cả hai vở diễn trên đều có yếu tố nước ngoài, và thông điệp của những tác phẩm này đầy sức lay động. Tôi ao ước mỗi ngày có nhiều người dân Hà Nội được xem những vở diễn như thế.
Trong khi sân khấu Hà Nội, đến một vở diễn bình thường, muốn xem, cũng khó. Liên hoan sân khấu thử nghiệm toàn quốc diễn ra tại Hà Nội cuối năm 2008 vừa rồi cũng rơi vào tình trạng diễn xong lại cất kho. Các vở diễn của tác giả trong nước vẫn đang rơi vào tình trạng "đồng sàng dị mộng" với người xem.
Tìm một hướng ra cho sân khấu Hà Nội, theo tôi, nên chọn dựng những vở kịch kinh điển của thế giới bằng ngôn ngữ sân khấu Việt, cho người Việt xem, vì bao giờ, trong những tác phẩm đó, cũng có thể cải thiện được cuộc khủng hoảng người xem kéo dài từ cuối thế kỷ 20 cho đến hôm nay. Như thế, mới nối lại mạch đập của kịch trường đang đứt đoạn.
Nhà viết kịch Chu Thơm - Phó Trưởng phòng Nghệ thuật (Cục Nghệ thuật biểu diễn):
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng không sáng đèn của sân khấu Hà Nội hiện nay, theo tôi, là do sự khó khăn về địa điểm biểu diễn, và cơ sở vật chất của các nhà hát hiện có tại Hà Nội, phần lớn, không đáp ứng được yêu cầu của khán giả. Vậy nên, muốn sân khấu Hà Nội thoát khỏi tình trạng trì trệ hiện nay thì phải có những nhà hát đáp ứng được điều kiện biểu diễn, là nơi mời gọi được khán giả đến với những tiện nghi tốt. Còn tài năng và lòng nhiệt tình, tôi nghĩ, ở bất kỳ đơn vị nghệ thuật nào của Hà Nội cũng có không ít nghệ sĩ vừa có tài vừa có tâm, hết lòng sống chết với nghề. Sân khấu Hà Nội cũng đang có tình trạng: "ăn cây này nhưng rào cây khác", diễn viên sân khấu đi đóng phim truyền hình quá nhiều, đến khi trở lại sân khấu thì lại như đang đóng phim. Song, không trách họ được, cũng bởi vì "miếng cơm, manh áo" cả thôi. Thế nên, trách nhiệm của lãnh đạo các nhà hát ở Hà Nội là cần phải tạo được nhiều công ăn việc làm cho nghệ sĩ. Không phải chỉ là dựng nhiều vở, mà là dựng nhiều vở hay để diễn liên tục, để diễn viên có thể sống được bằng nghề. Sự thiếu vắng những tác phẩm sân khấu hay, trách nhiệm một phần ở đội ngũ tác giả. Các kịch bản sân khấu ngày càng thiếu tính dự báo, mà sa vào mô tả, tái hiện cuộc sống, nhưng lại bằng một vốn sống ít ỏi, nên hầu hết chỉ là lẽo đẽo chạy theo thị hiếu khán giả mà thôi. Muốn dẫn dắt được người xem, mang tới cho họ những thông điệp sống động và thuyết phục, tác giả sân khấu cần phải hiểu sâu sắc về thời đại chúng ta đang sống, lấy đó làm nền cho trí tưởng tượng bay bổng. Những thông điệp vượt thời gian sẽ nảy sinh từ đó.
Ông Trương Nhuận - Phó Giám đốc Nhà hát Tuổi trẻ:
Môi trường hoạt động của sân khấu Hà Nội không sôi động và thiếu sự năng động trong hoạt động của các nhà hát. Các nhà hát hiện nay vẫn còn bị thụ động và lệ thuộc vào hoàn cảnh khách quan quá nhiều nên không chủ động, không có được những sáng tạo, đột phá mới để tìm kiếm, đến với khán giả của sân khấu. Trước sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng, dường như, sân khấu đang mất đi thế mạnh đề cập những vấn đề xã hội nóng bỏng, những xung đột xã hội đang tạo ra áp lực, nhường sân cho các phóng sự của truyền hình, báo chí. Thế nên, lối mở cho sân khấu hiện nay, theo tôi, có lẽ lại phải quay về với những vấn đề rất nhân bản, rất giản dị, hoặc là phải đáp ứng nhu cầu của một bộ phận khán giả là giải trí - đó cũng đang là hướng đi của Nhà hát Tuổi trẻ. Ðiều đáng mừng là hiện đang hình thành một thế hệ đạo diễn trẻ vừa được đào tạo từ Trường đại học Sân khấu - Ðiện ảnh, họ đều là những diễn viên kỳ cựu, những người luôn gắn với hơi thở của đời sống hiện nay như Quỳnh Mai, Triệu Trung Kiên... Có thể họ cũng đang loay hoay tìm tòi gắn những tác phẩm của họ với đời sống, hoặc nhìn từ những mảng, những vấn đề của đời sống để đưa sân khấu cập nhật hơn. Hy vọng một thế hệ nữa, thế hệ sắp tới này sẽ có cái nhìn mới mẻ hơn, được trao quyền rộng hơn, được giải quyết nhiều việc hơn, chứ nếu họ vẫn loay hoay trong việc giải quyết bài toán cơ chế bao cấp (về kinh phí dựng vở, cách quản lý con người...) thì sân khấu rất khó phát triển.
Luân Vũ (thực hiện
Tags: | Edit Tags



Friday April 17, 2009 - 06:46pm (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for April 18, 2009

Comments(2 total) Post a Comment8Fieu Offline ND - Thực ra vấn đề này có thể diễn ra một cách bình thường, liên tục và không có gì phức tạp đến độ là phải trao đổi quá nhiều, chờ đợi quá lâu và diễn tiến quá chậm - nếu chúng ta nhận thức và hành động theo quy luật rất tự nhiên của biện chứng, lịch sử, con người, xã hội và văn hóa.
Chúng ta đã từng có một nền sân khấu Việt Nam có giá trị lịch sử và nghệ thuật tạo thành bản sắc do các thế hệ tiền nhân làm nên và truyền thống đến lâu dài. Nhưng cả ngàn và trăm năm ấy, tiền nhân đã bổ trợ, làm sung mãn thêm, tạo ra thêm các thể loại, thể tài mới; đan xen học hỏi nhau để làm cho hay cho tốt hơn, và cần nhất là cho phù hợp với xu thế xã hội và đối tượng hưởng thụ là người xem. Vì thế mà có dị bản vừa gây tranh cãi, vừa tạo nên hào hứng, hấp dẫn. Chèo, tuồng, dân ca- nằm ở khu vực này!
Chúng ta lại đã có nền sân khấu kháng chiến rồi xây dựng kiến thiết và đấu tranh thống nhất đất nước; hiện nay là giai đoạn đổi mới.
Những người làm sân khấu Việt Nam ở giai đoạn nào cũng tạo nên dấu ấn nghệ thuật; biết gắn bó sự nghiệp của nhiều cuộc đời nghệ nhân, nghệ sĩ với mục đích phụng sự đất nước và dân tộc trên những nguyên tắc thẩm mỹ và đạo đức chính thống.
Ðã có nhiều kịch bản, vở diễn, với các tên tuổi lớn của các thành phần sáng tạo được ghi nhận qua các hội diễn, liên hoan, giới thiệu giao lưu quốc tế và nhất là trong sự tiếp nhận của các tầng lớp công chúng trong nước.
Ðã có một thời có người xem lý tưởng đầy ắp các khán phòng, sân bãi... và ngay cả dưới bom đạn.
Nhưng một số năm gần đây, với một thực tế hết sức không vui của tình hình sân khấu cả nước, đã xuất hiện một câu hỏi lớn và bức xúc là: nếu tình hình cứ tiếp tục xuống dần thế này- thì sân khấu Việt Nam sẽ đi tới đâu? Về đâu? Cho ai? Và giải cứu cho điều đó bằng phép mầu nào? Các vấn đề sân khấu hiện nay có thể là:
- Chỉ còn lại một ít người tâm huyết với công việc và nghề nghiệp sân khấu;
- Người tài, người trẻ vắng bóng;
- Người xem quay lưng lại;
- Nhà rạp lạc hậu;
- Chế độ chính sách không còn phù hợp;
- Xã hội hóa hoạt động sân khấu thuận lợi hay là khó khăn?
Và nhiều tâm lý, tâm trạng, tâm thức khác nữa.
Tác giả bài viết chỉ bàn về nội tại của sân khấu.
Thừa kịch bản yếu, thiếu kịch bản hay là khâu đầu tiên và cốt yếu nhất. Tác giả (nhất là ở khu vực phía bắc) phần lớn là người cao tuổi, thiếu sự đắm mình thật sự trực tiếp và máu thịt vào môi trường và đối tượng sáng tác. Cách viết lại không mấy thay đổi, ngôn ngữ và nhân vật vẫn phần nào khô cứng và khẩu hiệu (như xưa cần thế!)
Các tay bút ở phía nam phóng khoáng hơn, nhanh nhậy hơn cho kịp với đời thường và tốc độ sinh hoạt, cũng như nhu cầu có tính thị hiếu giải trí nhiều hơn nên vấn đề kịch bản "đụng tới" có khi lại thiếu chiều dày sâu sắc.
Kịch bản là thế thì đạo diễn có dàn dựng thế nào đi nữa cũng không vượt ra khỏi được yếu tố địa phương, thị hiếu thẩm mỹ và tiếp nhận theo vùng miền. Dựng vở ở đâu, vào lúc nào, diễn ở rạp nào, cho đối tượng người xem cụ thể nào, có những phương tiện kỹ thuật cao- thấp nào, từ nguồn kinh phí nào, giá vé bao nhiêu, có ai hoặc cơ quan nào "đặt hàng" vì một yêu cầu cụ thể nào không?... Những câu hỏi cần phải trả lời ngay đó - nhiều năm được bao cấp trước đây thì không phải nghĩ tới - còn hôm nay, không tự đặt ra và trả lời được thì là... đất tử!
Vì vậy có vở diễn đầu tư tiền tỷ, có vở chỉ là mấy chục triệu, và đương nhiên "tuổi thọ" của sản phẩm cũng vô cùng.
Dòng sân khấu chính thống và sân khấu đời thường đã song hành từng buổi diễn và đều chịu những thử thách khắc nghiệt.
Vì sao lại có sự chậm đổi mới đến vậy? Hay nói khác đi là vì sao... sân khấu lại có một sức "ì" lâu đến vậy?- Ðó là nhận thức chưa tới và chưa dũng cảm đổi mới phương pháp. Vẫn còn nặng về phẩm chất truyền thông đơn thuần mà chưa phải là phẩm chất nghệ thuật cao để từ đó có hiệu quả thẩm mỹ tương ứng.
Trong số đông người làm sân khấu hiện nay thì số người thật sự có năng lực và có kết quả sáng tạo không nhiều.
Ðiều cần là sáng tạo- tạo ra cái mới, cái "vô tiền khoáng hậu"- khi đó mới là thiên chức nghệ sĩ - theo đúng nghĩa- cả trách nhiệm công dân, cả vinh quang nghề nghiệp.
Tinh thần của các chủ trương, chính sách của Nhà nước hôm nay và thực tế của tất cả các loại sản phẩm vật chất và tinh thần đã xuất hiện yếu tố này: đã qua rồi thời kỳ chúng ta "bán" cái mà chúng ta "có", để vào thời kỳ phải làm ra được để bán được vừa là "cái có", nhất là cái mà người mua "cần".
Hạ tầng cơ sở, cơ chế chính sách, cơ cấu kinh tế, quan hệ xã hội, tâm thức và tâm lý con người, "giá trị" cũ và "trị giá" mới luôn thách đố nhau... đòi hỏi phải thích ứng và thay đổi.
Có một vấn đề ở đây cần trao đi đổi lại: yếu tố đặc trưng của sân khấu là mâu thuẫn. Mâu thuẫn càng cao, kịch tính của sự đối nghịch càng hấp dẫn thì bài học nhận thức về giá trị nhân văn, thành công hay thất bại của chủ đề câu chuyện kịch đặt ra cũng lớn theo. Vậy tác giả, đạo diễn, đơn vị nghệ thuật và... cả người xem nữa "dám" cùng nhau chọn mối mâu thuẫn nào, ở cấp độ nào để tạo nên xung đột, và giải quyết cuộc va đập nghề nghiệp đó theo hướng hệ quả nào, với một bản lĩnh công dân - nghệ sĩ nào để có được nhận thức vấn đề ở mức cao, và cả mức cao nhất?
Ðã xuất hiện một thành phố lớn có không khí náo nhiệt của "sân khấu đời thường" là TP Hồ Chí Minh với nghệ sĩ và công chúng luôn đồng hành theo một thị hiếu nhận thức tự nguyện và tự chọn lựa của Nhà hát thể nghiệm 5B Võ Văn Tần, IDECAF, kịch Sài Gòn, kịch Phú Nhuận, nhóm Thắp sáng niềm tin... và... bất chợt có "Kiều", "Chiếc áo Thiên nga" có dấu ấn.
Ðã có một lực lượng đạo diễn trẻ và có nhiều khả năng làm nên các vở diễn riêng biệt của mình.
Nhưng... nhà rạp thì vẫn cũ! Kỹ thuật sân khấu vẫn lạc hậu! Còn người xem thì luôn yêu cầu cái mới!
Năm 2009 sẽ tổ chức nhiều đợt hội diễn sân khấu chuyên nghiệp. Có gì mới đây?
Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam đã hai lần tổ chức Liên hoan sân khấu thử nghiệm quốc tế và một lần toàn quốc- nhằm tìm ra "những yếu tố mới" (và đang chờ quyết định của Chính phủ về việc cho phép tổ chức định kỳ hai năm một lần).
Chữ "thử nghiệm" đã dần quen thuộc hơn!
Lại đang có một trạng thái chờ đợi rất thú vị là: Kịch bản nào? Vở diễn sân khấu nào? Hình tượng nghệ thuật nào sẽ là chủ đạo, hấp dẫn, mới mẻ cho năm sân khấu 2010 - với Ðại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, để chào mừng Ðại hội toàn quốc lần thứ VII của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam?
Một sản phẩm vật chất làm ra không tiêu thụ được- kinh tế gọi là "hàng ế", tồn kho, lâu... thì là phế ND - Thực ra vấn đề này có thể diễn ra một cách bình thường, liên tục và không có gì phức tạp đến độ là phải trao đổi quá nhiều, chờ đợi quá lâu và diễn tiến quá chậm - nếu chúng ta nhận thức và hành động theo quy luật rất tự nhiên của biện chứng, lịch sử, con người, xã hội và văn hóa.
Chúng ta đã từng có một nền sân khấu Việt Nam có giá trị lịch sử và nghệ thuật tạo thành bản sắc do các thế hệ tiền nhân làm nên và truyền thống đến lâu dài. Nhưng cả ngàn và trăm năm ấy, tiền nhân đã bổ trợ, làm sung mãn thêm, tạo ra thêm các thể loại, thể tài mới; đan xen học hỏi nhau để làm cho hay cho tốt hơn, và cần nhất là cho phù hợp với xu thế xã hội và đối tượng hưởng thụ là người xem. Vì thế mà có dị bản vừa gây tranh cãi, vừa tạo nên hào hứng, hấp dẫn. Chèo, tuồng, dân ca- nằm ở khu vực này!
Chúng ta lại đã có nền sân khấu kháng chiến rồi xây dựng kiến thiết và đấu tranh thống nhất đất nước; hiện nay là giai đoạn đổi mới.
Những người làm sân khấu Việt Nam ở giai đoạn nào cũng tạo nên dấu ấn nghệ thuật; biết gắn bó sự nghiệp của nhiều cuộc đời nghệ nhân, nghệ sĩ với mục đích phụng sự đất nước và dân tộc trên những nguyên tắc thẩm mỹ và đạo đức chính thống.
Ðã có nhiều kịch bản, vở diễn, với các tên tuổi lớn của các thành phần sáng tạo được ghi nhận qua các hội diễn, liên hoan, giới thiệu giao lưu quốc tế và nhất là trong sự tiếp nhận của các tầng lớp công chúng trong nước.
Ðã có một thời có người xem lý tưởng đầy ắp các khán phòng, sân bãi... và ngay cả dưới bom đạn.
Nhưng một số năm gần đây, với một thực tế hết sức không vui của tình hình sân khấu cả nước, đã xuất hiện một câu hỏi lớn và bức xúc là: nếu tình hình cứ tiếp tục xuống dần thế này- thì sân khấu Việt Nam sẽ đi tới đâu? Về đâu? Cho ai? Và giải cứu cho điều đó bằng phép mầu nào? Các vấn đề sân khấu hiện nay có thể là:
- Chỉ còn lại một ít người tâm huyết với công việc và nghề nghiệp sân khấu;
- Người tài, người trẻ vắng bóng;
- Người xem quay lưng lại;
- Nhà rạp lạc hậu;
- Chế độ chính sách không còn phù hợp;
- Xã hội hóa hoạt động sân khấu thuận lợi hay là khó khăn?
Và nhiều tâm lý, tâm trạng, tâm thức khác nữa.
Tác giả bài viết chỉ bàn về nội tại của sân khấu.
Thừa kịch bản yếu, thiếu kịch bản hay là khâu đầu tiên và cốt yếu nhất. Tác giả (nhất là ở khu vực phía bắc) phần lớn là người cao tuổi, thiếu sự đắm mình thật sự trực tiếp và máu thịt vào môi trường và đối tượng sáng tác. Cách viết lại không mấy thay đổi, ngôn ngữ và nhân vật vẫn phần nào khô cứng và khẩu hiệu (như xưa cần thế!)
Các tay bút ở phía nam phóng khoáng hơn, nhanh nhậy hơn cho kịp với đời thường và tốc độ sinh hoạt, cũng như nhu cầu có tính thị hiếu giải trí nhiều hơn nên vấn đề kịch bản "đụng tới" có khi lại thiếu chiều dày sâu sắc.
Kịch bản là thế thì đạo diễn có dàn dựng thế nào đi nữa cũng không vượt ra khỏi được yếu tố địa phương, thị hiếu thẩm mỹ và tiếp nhận theo vùng miền. Dựng vở ở đâu, vào lúc nào, diễn ở rạp nào, cho đối tượng người xem cụ thể nào, có những phương tiện kỹ thuật cao- thấp nào, từ nguồn kinh phí nào, giá vé bao nhiêu, có ai hoặc cơ quan nào "đặt hàng" vì một yêu cầu cụ thể nào không?... Những câu hỏi cần phải trả lời ngay đó - nhiều năm được bao cấp trước đây thì không phải nghĩ tới - còn hôm nay, không tự đặt ra và trả lời được thì là... đất tử!
Vì vậy có vở diễn đầu tư tiền tỷ, có vở chỉ là mấy chục triệu, và đương nhiên "tuổi thọ" của sản phẩm cũng vô cùng.
Dòng sân khấu chính thống và sân khấu đời thường đã song hành từng buổi diễn và đều chịu những thử thách khắc nghiệt.
Vì sao lại có sự chậm đổi mới đến vậy? Hay nói khác đi là vì sao... sân khấu lại có một sức "ì" lâu đến vậy?- Ðó là nhận thức chưa tới và chưa dũng cảm đổi mới phương pháp. Vẫn còn nặng về phẩm chất truyền thông đơn thuần mà chưa phải là phẩm chất nghệ thuật cao để từ đó có hiệu quả thẩm mỹ tương ứng.
Trong số đông người làm sân khấu hiện nay thì số người thật sự có năng lực và có kết quả sáng tạo không nhiều.
Ðiều cần là sáng tạo- tạo ra cái mới, cái "vô tiền khoáng hậu"- khi đó mới là thiên chức nghệ sĩ - theo đúng nghĩa- cả trách nhiệm công dân, cả vinh quang nghề nghiệp.
Tinh thần của các chủ trương, chính sách của Nhà nước hôm nay và thực tế của tất cả các loại sản phẩm vật chất và tinh thần đã xuất hiện yếu tố này: đã qua rồi thời kỳ chúng ta "bán" cái mà chúng ta "có", để vào thời kỳ phải làm ra được để bán được vừa là "cái có", nhất là cái mà người mua "cần".
Hạ tầng cơ sở, cơ chế chính sách, cơ cấu kinh tế, quan hệ xã hội, tâm thức và tâm lý con người, "giá trị" cũ và "trị giá" mới luôn thách đố nhau... đòi hỏi phải thích ứng và thay đổi.
Có một vấn đề ở đây cần trao đi đổi lại: yếu tố đặc trưng của sân khấu là mâu thuẫn. Mâu thuẫn càng cao, kịch tính của sự đối nghịch càng hấp dẫn thì bài học nhận thức về giá trị nhân văn, thành công hay thất bại của chủ đề câu chuyện kịch đặt ra cũng lớn theo. Vậy tác giả, đạo diễn, đơn vị nghệ thuật và... cả người xem nữa "dám" cùng nhau chọn mối mâu thuẫn nào, ở cấp độ nào để tạo nên xung đột, và giải quyết cuộc va đập nghề nghiệp đó theo hướng hệ quả nào, với một bản lĩnh công dân - nghệ sĩ nào để có được nhận thức vấn đề ở mức cao, và cả mức cao nhất?
Ðã xuất hiện một thành phố lớn có không khí náo nhiệt của "sân khấu đời thường" là TP Hồ Chí Minh với nghệ sĩ và công chúng luôn đồng hành theo một thị hiếu nhận thức tự nguyện và tự chọn lựa của Nhà hát thể nghiệm 5B Võ Văn Tần, IDECAF, kịch Sài Gòn, kịch Phú Nhuận, nhóm Thắp sáng niềm tin... và... bất chợt có "Kiều", "Chiếc áo Thiên nga" có dấu ấn.
Ðã có một lực lượng đạo diễn trẻ và có nhiều khả năng làm nên các vở diễn riêng biệt của mình.
Nhưng... nhà rạp thì vẫn cũ! Kỹ thuật sân khấu vẫn lạc hậu! Còn người xem thì luôn yêu cầu cái mới!
Năm 2009 sẽ tổ chức nhiều đợt hội diễn sân khấu chuyên nghiệp. Có gì mới đây?
Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam đã hai lần tổ chức Liên hoan sân khấu thử nghiệm quốc tế và một lần toàn quốc- nhằm tìm ra "những yếu tố mới" (và đang chờ quyết định của Chính phủ về việc cho phép tổ chức định kỳ hai năm một lần).
Chữ "thử nghiệm" đã dần quen thuộc hơn!
Lại đang có một trạng thái chờ đợi rất thú vị là: Kịch bản nào? Vở diễn sân khấu nào? Hình tượng nghệ thuật nào sẽ là chủ đạo, hấp dẫn, mới mẻ cho năm sân khấu 2010 - với Ðại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, để chào mừng Ðại hội toàn quốc lần thứ VII của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam?
Một sản phẩm vật chất làm ra không tiêu thụ được- kinh tế gọi là "hàng ế", tồn kho, lâu... thì là phế phẩm.
Một sản phẩm tinh thần được tạo nên với một kỳ vọng nào đó mà công chúng không tiếp nhận - buồn nhiều hơn, day dứt hơn, hụt hẫng hơn vì hậu quả lại nằm ở khu vực tế nhị mà nhiều khi không nói thành lời được.


Saturday April 18, 2009 - 10:57pm (ICT) Remove Comment
8Fieu Offline Kịch bản sân khấu còn thiếu tính đột phá

--------------------------------------------------------------------------------

Cảnh trong vở Cung phi Điểm Bích.
ND - Ðã và vẫn đang diễn ra tình trạng nhiều nhà hát, đơn vị nghệ thuật sân khấu tìm về dựng kịch bản cũ từng qua dàn dựng hay kịch bản nước ngoài... Rõ ràng, thực trạng thiếu hụt kịch bản sân khấu vẫn trong tình trạng báo động...
Không bột khó gột nên hồ
Cảnh "mất mùa" kịch bản sân khấu đã liên tục xảy ra từ nhiều năm nay. Các nhà hát thi nhau kêu "đói" kịch bản. Quả thật, thiếu bột khó gột nên hồ. Vấn đề trước tiên của sân khấu vẫn là kịch bản. Những kịch bản hay hoàn toàn có thể đẩy các diễn viên đến tầm ngôi sao, nhưng nếu kịch bản tồi, dù đạo diễn có chắp vá hay đến đâu, diễn viên có ứng biến thế nào thì vẫn khó cứu vãn được sự "hụt hơi". Các trại sáng tác do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam cũng như nhiều ngành khác như quân đội, công an vẫn được tổ chức hằng năm, vậy sao sân khấu vẫn bế tắc về kịch bản? Liên hoan sân khấu thử nghiệm toàn quốc lần thứ nhất diễn ra vào cuối tháng 12-2008 được đánh giá là sẽ có những kịch bản sáng giá để tạo nên những thử nghiệm mới mẻ, vậy mà xem khắp lượt, hiếm hoi lắm mới thấy được vài vở đề cập trực diện tới những vấn đề thời sự của xã hội hôm nay. Cái thiếu và yếu của kịch bản hiện đại phải chăng là lý do để Ðoàn kịch Quân đội phải dựng kịch bản Ðồng quê âm vang của tác giả Tất Ðạt cách đây hàng chục năm; Nhà hát kịch Sân khấu nhỏ 5B phải dựng lại kịch Tây Ban Nha đã từng ở trong kịch mục của đơn vị cách đây chục năm trời.
Tự trói mình...
Họa sĩ Vũ Giáng Hương, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam đã từng tỏ sự thất vọng khi nói về chất lượng kịch bản sân khấu: Các tác phẩm của chúng ta còn thiếu chất sống, hầu hết mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả cuộc sống. Tôi lấy thí dụ: Cũng là đề tài về người công nhân trong đổi mới hội nhập, tại sao thập kỷ 80 của thế kỷ trước, chúng ta có được những vở kịch ghi dấu ấn trong lịch sử vinh quang của nền sân khấu nước nhà. Còn bây giờ, báo chí nói suốt ngày về sự ngược đãi, về sự đình công đòi hỏi quyền lợi công bằng cho người lao động mà không thấy xuất hiện vở kịch nào nói về đề tài này?". Trước đây còn có lý do để nói sân khấu dựng vở "không được như ý" một phần là do việc duyệt vở qua nhiều khâu. Vậy mà kể từ khi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trao quyền cho các nhà hát tự lựa chọn và dựng kịch bản và chỉ duyệt khâu cuối cùng khi vở ra mắt thì sân khấu vẫn vậy. Ngỡ tưởng sân khấu sẽ được "cởi trói" để cho ra lò những vở diễn mang những vấn đề gai góc của cuộc sống thì thực tế đề tài của sân khấu vẫn đang đi vào lối mòn, nếu không phải là mô-típ tình già, tình trẻ thì cũng là những bi kịch gượng ép, khó tin. Những nhân tố mới, những vấn đề bức thiết trong cuộc sống được trình bày một cách hời hợt.
Tìm một vở diễn hay làm lay động lòng người như trước đây không phải là điều đơn giản. Cho nên, để giải quyết vấn đề này, nhiều nơi đã chuyển thể một số tác phẩm văn học nổi tiếng đưa lên sàn diễn. Sân khấu kịch hát dân tộc xem ra còn thiếu kịch bản trầm trọng hơn. Loanh quanh điểm mặt chỉ một vài gương mặt còn tiếp tục gắn bó với nghiệp viết như: Trần Ðình Ngôn, Bùi Vũ Minh, Hà Văn Cầu (chèo), Hoàng Song Việt, Lê Chức (cải lương)... Có lạ không khi mà Khoa Kịch hát dân tộc của Trường đại học Sân khấu Ðiện ảnh Hà Nội vẫn đều đặn tuyển và đào tạo tác giả vậy mà điểm mặt chỉ tên tác giả viết cho tuồng, chèo, cải lương thì khéo lắm cũng chưa hết đầu ngón tay, thử hỏi làm sao có thể thỏa được cơn khát kịch bản của hàng chục đơn vị sân khấu kịch hát dân tộc hiện nay trên cả nước?
Trước tình thế thiếu kịch bản hay, không ít đạo diễn, nghệ sĩ phải "cứu vãn" bằng cách nhảy vào viết kịch bản. Những cây bút này biết khán giả cần gì và họ nên viết kịch thế nào. Ðiều này ghi nhận ở một số đạo diễn như: Ái Như, Ðức Thịnh, NSƯT Thành Hội. Thế nhưng nhược điểm rất rõ trong các tác phẩm này là thiếu chất văn học và trữ tình cần có cho tác phẩm sân khấu. Tại Cuộc thi tài năng đạo diễn trẻ sân khấu toàn quốc năm 2007, hai đạo diễn trẻ Hoàng Quỳnh Mai và Triệu Trung Kiên đã giành hai giải cao nhất với vở Cung phi Ðiểm Bích và Dấu ấn giao thời. Sau thành công của vở Cung phi Ðiểm Bích, Hoàng Quỳnh Mai lại tiếp tục đưa vở thứ hai của nhà văn Hoàng Loan lên sân khấu cải lương, đó là vở Bến nước ngũ bồ. Chính từ hai vở cải lương này của Nhà hát cải lương Việt Nam, người ta mới thấy rõ cái thiếu lớn nhất hiện nay của kịch bản kịch hát dân tộc chính là chất văn học và trữ tình để làm nên sức hấp dẫn cho kịch hát. Ðặc biệt, đạo diễn trẻ Triệu Trung Kiên đã tự viết kịch bản Dấu ấn giao thời, tự dàn dựng và tự diễn xuất đã tạo nên sự bứt phá. Mới đây Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang cũng đã lên sàn với kịch bản Dấu ấn giao thời của Triệu Trung Kiên.
Tre đã già mà măng chưa mọc...
Tổng cục Chính trị vừa tổ chức trao giải cho các tác giả sân khấu có kịch bản chất lượng tại cuộc thi đầu tư sáng tác kịch bản sân khấu trong hoạt động trọng điểm văn học nghệ thuật và báo chí trong quân đội 2006 - 2010. Các gương mặt đoạt giải vẫn là những cái tên tác giả quen thuộc: Chu Lai, Hà Văn Cầu, Lê Quý Hiền, Phạm Văn Quý, Bùi Vũ Minh... GS Hà Văn Cầu, người được nhận giải thưởng với vở kịch Người gieo hạt, chia sẻ: Tôi và nhiều tác giả lớn tuổi như anh Sỹ Hanh, anh Trần Bảng và nhiều đồng nghiệp đã có thâm niên gắn bó với sân khấu hơn 60 năm. Những năm gần đây chúng tôi không khỏi lo lắng cho sự thiếu hụt của lực lượng tác giả trẻ kế cận, chúng tôi rất muốn bàn giao lại công tác biên kịch cho lớp trẻ nhưng quả là vô cùng khó khăn khi mà không mấy ai chịu theo nghiệp viết kịch hát dân tộc. Ðúng là một nghịch lý khi mà đội ngũ tác giả văn học, điện ảnh, âm nhạc tương đối đông đảo và luôn được trẻ hóa thì lực lượng sáng tác kịch bản sân khấu lại gần như chưa được chuyên nghiệp hóa. Tác giả tên tuổi viết nên được những tác phẩm tạo dư luận thì đã qua đời hoặc đều lên lão làng cả, lớp trẻ lại chưa thấy đâu.
Mới đây, để khắc phục thực trạng thiếu người viết, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã quyết định một bước đi mới: Ðào tạo tác giả từ những hạt nhân nòng cốt của sân khấu và lực lượng nhà báo với hy vọng tạo "cú hích" cho sân khấu. Ðây câu chuyện lâu dài, nhưng rõ ràng, đã tới lúc các nhà hát, các đơn vị sân khấu đặc biệt là sân khấu phía bắc cần thay đổi ngay từ tư duy lựa chọn kịch bản cho tới cung cách dàn dựng vở, có như vậy sân khấu mới có thể làm mới được mình.



Saturday April 18, 2009 - 11:16pm (ICT) Remove

Labels:

Trinh Hoi da chinh thuc rut vai.

Entry for April 17, 2009
Trinh Hoi da chinh thuc rut vai.

Ly do dau tien la so dong hay qua, khan gia tuong minh la gay thiet.

Sau do, ben SPAC da kiem cho anh mot vai khac, khg fai la gay.

Nhg roi thuong thao cung khg thanh.

Minh khg tin ly do bat dong la $.

Neu dat chu $ len tren het thi coi nhu minh da dep het nhg cong viec dang lam

Labels:

Stereo man (tạm dịch: Người lập thể

Entry for January 06, 2009
http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/200901/20090104174947.aspx


Nếu 8 nhớ không lầm thì những câu thơ trong vở Stereo man nầy là của 8.

Fải ghi lại như vậy vì mai mốt 8 còn dùng trong film “Lost in Citadel”

Không khéo 8 lại mang tiếng chôm của chính mình.


"Stereo man" và những chuyện nhạy cảm




04/01/2009 17:49



Năm nhân vật - năm số phận trong Stereo man - Ảnh: Như Lịch


Vở kịch Stereo man (tạm dịch: Người lập thể hoặc Muôn mặt của người đàn ông) do năm nghệ sĩ Đoàn kịch hình thể - Nhà hát Tuổi Trẻ Việt Nam lưu diễn tại nhiều trường ĐH, CĐ phía Nam đã và đang gây được hiệu ứng tốt trong sinh viên.

Đừng dập tắt hy vọng cuối cùng

Chủ yếu dựa vào âm thanh và nhất là ngôn ngữ thể hình, Stereo man lôi cuốn người xem ngay từ những cảnh đầu tiên. Sự hấp dẫn này còn nhờ Stereo man không ngần ngại đề cập những vấn đề được xem là nhạy cảm, đó là: Đồng tính, HIV/AIDS, bạo hành giới... Khán giả khó quên được ánh mắt đau đáu, tuyệt vọng của một thanh niên sử dụng ma túy, bị nhiễm HIV/AIDS do nghệ sĩ Như Lai thủ vai. Đặc biệt, nghệ sĩ Hải Hưng đã lột tả sự giằng xé nội tâm của một chàng trai khi rụt rè xỏ chân vào đôi guốc điệu đàng, để rồi thảng thốt nhận ra mình là phụ-nữ-trong-thân-xác-đàn-ông. Bên cạnh đó, ba nghệ sĩ khác là Hoàng Tùng, Hoài Nam và Công Dũng cũng diễn xuất tròn vai qua những vai nhân vật bị lạm dụng tình dục từ nhỏ, hoặc người phải luôn gồng mình tỏ ra mạnh mẽ, sống giả với ước muốn thầm kín...


Diễn viên Công Dũng trong "vòng vây" của sinh viên

Lời thoại ít xuất hiện trong Stereo man. Và, mỗi lần nhân vật lên tiếng thì câu nói của họ thường mang những thông điệp sâu sắc. Chẳng hạn, trong khi chàng trai bị nhiễm HIV/AIDS đang quằn quại với những đớn đau, tủi nhục, bất chợt có những tiếng nói vang lên: "Sự thật có xấu đâu, xin đừng che giấu. Tay bạn nhỏ sao che nổi mặt trời"; "Đừng dập tắt hy vọng cuối cùng". Hay là, cảnh năm nhân vật với những nỗi đau riêng xông vào đánh nhau tơi bời, để rồi sau đó chính họ nhận ra sự thật: "Ta là gương soi bóng - Bóng là tấm lòng ta - Ta vui là bóng cười - Ta buồn là bóng khóc...".


Vở kịch Stereo man (đạo diễn và biên đạo múa: Agnes Locsin) là chương trình kết hợp giữa Đoàn kịch hình thể - Nhà hát Tuổi Trẻ Việt Nam và Nhà hát Giáo dục Philippines trong việc đưa nghệ thuật vào phát triển cuộc sống cộng đồng (Ford Foundation tài trợ). Đợt lưu diễn này kéo dài từ ngày 5.12.2008 đến ngày 8.1.2009, qua khoảng 20 trường ĐH, CĐ thuộc TP.HCM, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đà Lạt, Nha Trang, Đà Nẵng.


"Không sai lầm khi đến xem"

Khi biểu diễn tại trường ĐH Sư phạm TP.HCM, đoàn đã dành thời gian giao lưu với khán giả trẻ. Một số sinh viên thè lưỡi vừa e ngại vừa ngưỡng mộ khi nghệ sĩ kiêm phụ trách tour diễn Như Lai chia sẻ sự khổ luyện: "Để diễn kịch hình thể, chúng tôi phải pha trộn giữa múa đương đại, múa ballet, múa cổ truyền (tuồng) cộng với một chút xiếc...". Một sinh viên nữ nói: "Đây là lần thứ hai em đi coi vở kịch này. Em suy nghĩ gần 2 tuần rồi và không hiểu hết câu nói: Ta là gương soi bóng. Mong các anh giải thích giùm". Nghệ sĩ Như Lai nói: "Chúng tôi là gương, các bạn là bóng và ngược lại. Chúng ta luôn soi chiếu cho nhau, thấy khuyết điểm thì bổ sung cho nhau, cùng nhau hoàn thiện. Hãy nhìn những mảnh đời trong vở kịch mà soi lại bản thân mình.

Chúng tôi muốn các bạn tự rút ra kết luận, tự viết một đoạn kết cho bản thân". Bạn Linh Đa - sinh viên năm nhất khoa Pháp văn, trường ĐH Sư phạm TP.HCM nhận xét: "Vở kịch này mới, lạ. Về nội dung, chưa chắc mọi người có cảm nhận giống nhau. Tuy nhiên, từ vở kịch, bản thân mình rút tỉa một điều: không có ai hoàn hảo và không phải hễ cái gì khác biệt với số đông đều đáng lên án". Bạn Hồng Thắm, sinh viên trường CĐ Phát thanh - Truyền hình TP.HCM phát biểu: "Tôi đã không sai lầm khi quyết định đến đây xem. Đây là lần đầu tiên tôi thưởng thức một vở kịch ít lời thoại nhất nhưng vẫn cảm nhận rõ những vật vã, xót xa của nhân vật thể hiện qua hình thể". Hồng Thắm bày tỏ mong muốn đoàn kịch nên mở rộng quy mô chương trình để vở kịch đến được với đông đảo sinh viên hơn nữa. Trong khi đó, một sinh viên khác đề nghị những người thực hiện tour diễn nên xây dựng một diễn đàn để trao đổi thông tin với khán giả và để hiệu ứng Stereo man lan tỏa hơn.

Như Lịch

Tags: | Edit Tags



Tuesday January 6, 2009 - 02:24am (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for January 07, 2009

Comments(2 total) Post a CommentCu' M… Offline Em nhớ mấy câu thơ này của chị 8 ;D

Tuesday January 6, 2009 - 04:38am (GMT) Remove Comment
Cu' M… Offline Ah, mà em chưa coi được vở này...

Tuesday January 6, 2009 - 04:47am (GMT) Remove Comment

Labels:

LỜI THỈNH CẦU CỦA ĐẠO DIỄN LÊ HOÀNG

Entry for December 03, 2008
LỜI THỈNH CẦU CỦA ĐẠO DIỄN LÊ HOÀNG

Thưa Thầy,
Em là Lê Hoàng, một người yêu sân khấu, một học trò của Thầy. Có thể thầy không nhớ em vì trong cuộc đời giảng dạy của Thầy đã gặp quá nhiều học trò, nhưng em nhớ Thầy do Thầy truyền đạt rất hay (và phải nói thật rằng không phải ai đứng trên bục giảng đều được như thế cả.)
Một trong những điều hay của Thầy, là ngày trước luôn luôn nhắc nhở chúng em: “Người trẻ phải tự tin, người nghệ sĩ trẻ càng phải tự tin. Một nên văn hóa nói chung và một nền sân khấu nói riêng, nếu các nghệ sĩ trẻ của nó không tự tin thì chắc chắn không phát triển được!”. Những lời thầy nói đó em còn nhớ như in. Và em chắc thầy cũng đồng ý với em: Muốn tự tin cần nhiều điều kiện. Nhưng trước tiên cần phải Được Tin! Bởi sự tự tin đâu phải một khái niệm mơ hồ. Nó là cảm xúc, hay nói chính xác hơn, là một nhân cách được hình thành khi người nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm hoặc xử lý những vấn đề trong cuộc sống được xã hội chấp nhận, xã hội hưởng ứng và tạo điều kiện.
Nói cách khác nếu tự tin là thân cây, cái cây ấy chỉ lớn khi rễ của nói được tiếp dinh dưỡng từ tình cảm và lý trí của người xung quanh, đặc biệt là những người đi trước.
Hay nói một cách khác nữa, nôm na theo lối dân gian ( một lối mà sân khấu chúng ta rất cần.): Muốn trẻ con tự tin, người lớn phải cho chúng cơ hội. Liên hoan sân khấu, với các nghệ sĩ sân khấu trẻ, không nghi ngờ gì nữa, rõ ràng là một cơ hội. Liên hoan sân khấu Thể Nghiệm, vượt lên trên hết càng là Cơ Hội Lớn.


Thầy tôn kính.
Vậy mà em vô cùng thất vọng(ngoài thất vọng ra em còn có những cảm giác khác có lẽ không nên viết ra đây). Khi đọc danh sách ban giám khảo liên hoan sân khấu thể nghiệm này, có năm người thì đều là năm người tuổi đã quá cao. Đứng về mặt hành chính,họ toàn đã về hưu, trong đó có Thầy.
Thầy ơi,
Em không chút nào nghi ngờ thành tích cũng như đức độ của năm vị giám khảo đó.Nhưng phải thú thực là em đã hy vọng hoàn toàn không giống thế. Chẳng ai dám bảo rằng chỉ có tuổi Trẻ mới Thể Nghiệm và biết đánh giá đâu là Thể Nghiệm.Về lý thuyết thì không. Nhưng có một thực tế ít người phủ nhận và chính thầy, ngày xưa, khi đứng trên giảng đường cao quý nói với chúng em cũng chẳng bao giờ phủ nhận, là cái Trẻ, cái Mới, cái Thử Nghiệm thường đi kèm với nhau. Bởi tuổi trẻ, như toàn nhân loại đã công nhận, luôn là tuổi sung sức nhất, khát khao nhất, dám nghĩ dám làm nhất của con người. Do đó, chúng ta mới đặc các tên như: nhà hát Tuổi Trẻ, báo Tuổi Trẻ, đoàn kịch Trẻ…
Trong bất cứ ngành nào của đất nước, chứ chẳng riêng ngành văn hóa, càng không riêng gì ngành sân khấu, lớp trẻ chắc chắn phải là lớp quyết định, lớp tiên phong, do đó là lớp cần lắng nghe và cần có tiếng nói. Nhưng thực tế thì sao?

Đã bao nhiêu liên hoan sân khấu rồi, những vị trong hội đồng giám khảo đều là những người già. Em xin nhắc lại lần nữa, em vô cùng kính trọng người già. “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, là những đạo lý mà thấm thía thực sự chứ không hề nói suông. Nhưng tuổi già phải có những hạn chế. Điều này khoa học đã chứng minh, và thực tế cuộc sống đã chứng minh.Sự về hưu của người già trong công tác không chỉ có nguồn gốc nhân đạo mà còn có nguồn gốc hiệu quả thực tiễn. Và dù cho người già có nhiều ưu thế, ở những mặt nào, chắc phần “Thử Nghiệm” người trẻ vẫn có ưu thế hơn, dù có giết em đi em vẫn tin điều này!

Vậy mà toàn bộ ban giám khảo là người già. Cả nền sân khấu từ Bắc tới Nam, cả bao nhiêu nghệ sĩ đã hơn bốn mươi hoặc gần bốn mươi như Chí Trung, Thành Lộc, Trung Hiếu, Thu Hà, Anh Tú, Lê Khanh….không ai có đủ trình độ đánh giá kịch thể nghiệm. Và vì thế không ai được mời vào ban giám khảo, thưa Thầy.Thầy ơi,
Thầy là thầy của em. Thầy dạy em bằng chữ trên bảng đen và bằng cả cách sống.Em dù có ít tin ai thì vẫn tin Thầy.Em biết Thầy tuy ở trong ban giám khảo đó nhưng không phải người lập ra nó. Em đoán rằng Thầy ngồi ở đó mà tự nhủ sẽ cố gắng thật vô tư và thật “Trẻ”. Em rất cám ơn. Nhưng em sẽ cám ơn biết bao nếu như Thầy trình bày với ban tổ chức, ban chỉ đạo, hãy mời những nghệ sĩ trẻ vào hội đồng chấm thi. Mời như thế cũng đã muộn lắm rồi. Nếu không mọi mơ ước đổi mới sân khấu của chúng ta chỉ là lời nói…hào nhoáng!

Thầy ơi,
Cả em và Thầy đều có những kỷ niệm chung. Cả em và Thầy đều có thời yêu sân khấu, yêu nền điện ảnh Xô Viết. Có một bộ phim Xô Viết mang tựa đề “ Chỉ có những ông già đi chiến đấu.” Ngày xưa, em và Thầy đều thấy rất hay, nhưng đó là phim hài, chắc thầy vẫn nhớ. Nhưng liên hoan sân khấu thể nghiệm toàn quốc, được khai mạc giữa thủ đô Hà Nội, được cấp ngân sách hàng tỷ đồng bằng tiền nhà nước, số tiền đó có phần đóng thuế tuy ít ỏi của nhiều nghệ sĩ trẻ, chắc chắn không phải là liên hoan hài. Đấy là một nơi nghiêm túc. Nghiêm túc vô cùng.Hãy để cho người Trẻ có tiếng nói trong việc thẩm định.

Đọc đến đây có thể Thầy sẽ hỏi: Tại sao hàng trăm học sinh mà chỉ có mình Lê Hoàng viết thư cho tôi về vấn đề này. Em không dám đại diện cho ai cả, nhưng em có cảm giác là những nghệ sĩ khác không nói vì họ đã quá buồn và đã quá quen với sự không được quyền lựa chọn. Họ thiếu niềm tin. Em cũng thiếu, nếu như không có Thầy.
Em không phải là một học sinh có khả năng trình bày ý nghĩ của mình một cách khéo léo, nếu như Thầy đọc thư này có điều gì phật ý thì em rất xin lỗi. Nhưng Thầy hãy tin em thành thực.
Chúc Thầy sức khỏe và hạnh phúc.
Học trò cũ
Tags: lờithỉnhcầucủađạodiễnlêhoàng | Edit Tags



Wednesday December 3, 2008 - 05:39pm (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for December 07, 2008

Labels:

Do la 1 tieng Het CAM

Entry for October 17, 2008
Anh nay do Vo Dac Danh chup tai 1 wan cafe.

Do la 1 tieng Het CAM

cho nhg trich doan tam goi la Nguoi Lang Man Cuoi Cung.

Nhu trong 1 vo kich cua Lien Xo thoi 80s the ky truoc,

khi anh chang thi si bi truc xuat ra khoi thanh fo,

cac co cay deu heo ua,

cac chim choc bay theo anh,

va co gai dep nhat thanh fo cug bo theo anh.


Dau fai tu dung ai muon bien = ke Vong Gia That Tho

dau fai tu dung

co nhg vet chem hu vo con dong lai muon doi.


Neu cac co gai khg chi mat ten Nguy Quan Tu van len lut ham hiep minh

mot cach hen ha

thi han van tiep tuc venh vang song

venh vang gan huy , huan chuong day nguc.

va tuong rang han duoc quyen Bat Kha Xam Fam
Tags: nguoilangmancuoicung. | Edit Tags



Friday October 17, 2008 - 12:59am (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for October 17, 2008

Comments(5 total) Post a CommentVÕ ĐẮ… Offline IM Em chụp nhiều hình đẹp lắm sao chị lại chọn hình nầy ?

Friday October 17, 2008 - 06:16am (ICT) Remove Comment
TinhTri Offline Em thích tấm hình này, nhìn đôi bàn tay, không cần thấy mặt cũng đã đủ cảm giác bị rách màng nhỉ...

Friday October 17, 2008 - 06:26am (ICT) Remove Comment
8Fieu Offline @ be cung di hom no la Diu Nhi, fai khg? Cac tam anh dep thi ban be noi hong co giong. Vi da co luc bi dat ten la Bui Ngoc, coi nhu ba con voi Ban Giui ve cai su an mac cau tha.
@ Tinh Tri.
Nhg ma luc do chi la tieng het Cam, vi neu het dung cong suat thi chu wan ca fe se boi thuong vi toi lam khach ben ngoai chay mat (du ca dam tui nay man trong fng rieng)

Friday October 17, 2008 - 08:18am (ICT) Remove Comment
MAP M Offline Ai nghe CAM lặng lòng ta đó
Một tiếng than ôi :Cuộc biến dời!

Monday October 20, 2008 - 10:41am (ICT) Remove Comment

Labels:

The Turandot Project

Entry for October 09, 2008
Peking opera is totally different.

It’s like a tea house.

People toss towels,

Crack watermelon seeds – they eat.


There are prostitutes,

All kinds of people.

Very messy – that’s Peking Opera.

Nothing like Western audiences.

They’re very respectful, very serious


Truong Nghe Muu fat bieu trong

The Turandot Project, documenttary film, Director Allan Miller
Tags: | Edit Tags



Thursday October 9, 2008 - 02:22am (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for October 13, 2008

Labels:

Nghệ Sĩ Kim Cúc,

Entry for September 06, 2008
(Hinh: chuan bi cho Frida Kahlo, se dien khoang ngay gio to))

Theo như Nghệ Sĩ Kim Cúc, khi dạy ở trường Ðào tạo diễn viên của Nhà Hát Cải Lương Trần Hữu Trang đã cho biết cô đã nghe được tích ông tổ từ những người trước như sau: Ba ông tổ vốn là ba thiếu niên trạc mười hai tuổi, một là HoàngTử, một làm nghề Hành khất sống lang thang và một theo dân giang hồ hành nghề cướp. Cậu Hành khất và cậu Giang hồ sau một ngày hành nghề thường nhóm lửa cùng đồng bạn diễn lại ngững điều tai nghe mắt thấy trong ngày. Cậu Hoàng Tử một lần được dự, mê quá không muốn về cung. Vua cha cho quân sĩ bao vây, dọa đốt nếu không ai giải tán. Không ngờ ba cậu thiếu niên say sưa diễn và xem đến độ không ai tháo chạy thoát thân. Cuối cùng ba cậu đều chết cháy cùng ngọn lửa bao quanh. Tích còn cho biết chỗ trú ẩn cuối cùng của ba cậu là thân cây vông nên tượng Tổ về sau làm bằng gổ vông. Ngày giỗ tổ thường cúng heo quay cũng do tích trên. Dân sân khấu cữ đem trái thị vào hậu trường vì cho rằng tổ là trẻ nhỏ sẽ mê hương thị, không phù hộ cho diễn viên tập trung nên diễn viên thường bị quên lời. Họ cũng cữ cho tiền những người ăn xin vì cho rằng như vậy sẽ không coi trọng Tổ của mình cũng từ tích kể trên.

Tags: fridakahlo | Edit Tags



Saturday September 6, 2008 - 10:21pm (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for September 09, 2008

Labels:

Frida Kahlo

Entry for August 02, 2008
Moi ba con vao day nghen.

http://blog.360.yahoo.com/locdedai

Ben day minh cung dang lam chuong trinh Trung Thu cho tre con.

Con o noi dang song, minh duoc chon lam Frida Kahlo, se ban do va hoa trang y nhu tam hinh nay.



http://www.pbs.org/weta/fridakahlo/worksofart/index.html

Wa troi la busy.

Sap bay di Alobama goai, con wa nhieu chuyen chua xong
Tags: | Edit Tags



Saturday August 2, 2008 - 08:37am (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for August 02, 2008

Comments(1 total) Post a Comment8Fieu Offline Alabama, muon xoa cung khg duoc, fau dinh chinh o day

Saturday August 2, 2008 - 08:43am (ICT) Remove Comment

Labels:

chon tu Ca Dao

Entry for June 30, 2008
Chinh xac thi minh chi sang tac mot so doan.

Canh do la chon tu Ca Dao, ca tu cua nhieu nguoi noi tieng. Ghi nhu the nay thi khg chinh danh.

Lời thơ Nguyễn Thị Minh Ngọc

Dau tien dinh chuyen tu truyen cua Nguyen Ngoc Tu, nhung khg kip ve nhieu mat, trong do co ca chuyen kiem duyet nen chi bao cao noi bo

Labels:

Hành trình và Đích đến

Entry for June 28, 2008
THƯ MỜI


Trân trọng kính mời: ………………………………………………………………………


Đến tham dự

Chương trình biểu diễn báo cáo của Đoàn kịch Hình thể NEWS
"HÀNH TRÌNH VÀ ĐÍCH ĐẾN"

Thời gian: 20g00 ngày 29/06/2008 và 17g00 ngày 30/06/2008

Địa điểm: Sân khấu IDECAF – 28 Lê Thánh Tôn, quận 1, TP.HCM


Hành trình và Đích đến là vở diễn báo cáo kịch hình thể sử dụng âm nhạc, chuyển động, hát bội và thơ ca do các nghệ sĩ của Đòan kịch hình thể NEWS phát triển từ những câu chuyện và sự sáng tạo của riêng mình. Đó là bức tranh lập thể về sự chào đời, thời thơ ấu, hành trình, niềm hy vọng, khó khăn, xung đột, vẻ đẹp và sự sáng tạo nghệ thuật. Thông qua những câu chuyện khác nhau thể hiện trên sân khấu được hòa vào thành một câu chuyện chung về cuộc sống, khán giả có thể tự nhận ra những màu sắc cũng như khoảnh khắc của chính mình.

THAM GIA DIỄN XUẤT

Nguyễn Thanh Bình

Lê Bảo Châu

Cao Thành Danh

Nguyễn Văn Hà

Đỗ Nguyễn Hòan

Nguyễn Thị Thu Lai

Hòanh Thị Kiều My

Đặng Thanh Nga

Huỳnh Hữu Phước

Lê Thị Kim Phượng

Huỳnh Thị Anh Thi

NSƯT Phan Ngọc Nga


Lời thơ

Nguyễn Thị Minh Ngọc


Chỉ đạo nghệ thuật

Cliff Moustache
Nguyễn Nghiêu Khải Thư


Trợ lý

Cao Minh Phuong

Đòan kịch hình thể NEWS (North, East, West, South – Đông, Tây, Nam, Bắc) mong muốn thúc đẩy sự hợp tác quốc tế và khám phá sân khấu hình thể và thử nghiệm. Chương trình này được sự hỗ trợ và giúp đỡ của Nhà hát Nghệ thuật Hát bội Tp.HCM, Nordic Black Theatre, Đại sứ quán Hoàng gia Nauy, Viện trao đổi văn hóa Phá IDECAF.


Tags: | Edit Tags



Saturday June 28, 2008 - 09:08pm (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for June 30, 2008

Comments(2 total) Post a CommentNúi đ… Offline Em biết muộn quá vì mấy hôm bận, chị cho em 1 số thông tin thêm về buổi diễn và ảnh được không ạ? chị còn ở VN bao lâu? em có thể gặp chị tại SG được không? số tel của em: 0983 72 75 79.

Wednesday July 2, 2008 - 12:07am (ICT) Remove Comment
8Fieu Offline @ Nui Da. Giờ chót bị bệnh, phải chờ kết quả xét ngiệm và có thể phải giải phẩu nên không về được dù đã lấy vé rồi. Ðành phải làm việc với Cliff và Khải Thư qua phone và email.

Các bạn khá khó khăn trong chuyện tìm đối tác và giấy phép nên giờ cuối không làm được như mình dự định. Lúc đầu, mình chuyển từ một truyện của Nguyễn Ngọc Tư và định làm với sinh viên trường Cao Ðẳng Sân Khấu và Ðiện Ảnh như đã làm với nhau hồi tháng 11, 2007, nhưng giờ chót thì chuyện nầy cũng không thành..

Khải Thư còn ở Việt Nam đến giữa tháng để làm luận án tiến sĩ về sân khấu Việt Nam. Cô đang chọn viết về Lưu Quang Vũ và Cải Lương.


Wednesday July 2, 2008 - 01:52am (ICT) Remove Comment

Labels:

Bạn là ai?

Entry for June 07, 2008
Bạn có thể tham gia “Hành Trình qua Bản Sắc” từ ngày 16 tháng Sáu đến 3 tháng Bẩy tại Sài Gòn nếu gửi những câu trả lời đến đây trước ngày 14 tháng Sáu.


Bạn là ai?
Bạn từ đâu đến.
Tại sao bạn muốn tham gia “chuyến đi” nầy?
Hãy kể thật ngắn một kỷ niệm tuổi thơ nào vẫn khiến bạn nhớ lại hoài.
Cách diễn tả mạnh nhất nào của bạn mà bạn muốn biểu diễn cho người xem? Ví dụ như kể chuyện, hát, đóng kịch, ngâm thơ, ảo thuật, làm xiếc v.và
Tại sao bạn muốn biểu diễn hay kể chuyện cho một đám đông nào của công chúng?
Có bài hát, điệu múa nào thời nhỏ vẫn lưu trong trí bạn? Vì sao nó đã trở thành đặc biệt với bạn? Bạn có thể diễn lại nó không?
Có bức tranh nào vẫn lưu lại trong đầu bạn? Có thể tả lại nó không?
Bạn thấy Sài Gòn ngày nay thế nào? Thử so sánh với Sài Gòn trước đó?
Ý nghĩa của tình huynh đệ là gì?
Ý nghhĩa của tình yêu và đam mê của chính bạn cũng như cư dân quanh bạn?
Cách nào liên lạc với bạn nhanh nhất, số điện thoại? Ðiạ chỉ email?

Hãy gửi về nsminhngoc@yahoo.com

Hay fone : 9. 306 745 (home)

0913 92 30 70 (cell) gap Nguyen Thi Minh Thu


Nếu bạn không có mặt ở Sài Gòn, và nếu câu trả lời của bạn được dùng đến, tên bạn cũng sẽ để cùng tên tôi ở chổ Tác giả hay Người Biên tập chương trình.

Ưu tiên dùng câu trả lời của những bạn sẽ trực tiếp tham dự hành trình nầy.

Dự kiến sẽ gặp nhau tại Nhà Hát Sân Khấu Trẻ, thuộc trường Cao Ðẳng Sân Khấu và Ðiện Anh, 125. Cống Quỳnh. Quận Nhất.


Tags: | Edit Tags



Saturday June 7, 2008 - 10:05pm (ICT) Edit | Delete | Permanent Link | 0 Comments

Labels:

Thanh tẩy (Cleansed) của Sarah Kane,

Riêng tôi, khi xem cảnh làm tình giữa cô gái với hồn ma người mình yêu nhất, trong thời điểm đó, không gian đó lại là một cảm xúc ngậm ngùi khi liên tưởng đến một đất nước bị tách đôi; đến lúc được ráp lại làm một, luôn phải có khá nhiều đắng cay, nghiệt ngã phải trả.


(1)
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=257434&ChannelID=10

Những cảnh sex ấy có nói được chăng quy luật của cuộc sống, tình yêu?

(2)

@ Năm 1993, lần đầu tiên dự đại hội phụ nữ viết kịch toàn thế giới ở Adelaide, Australia, tôi chỉ được xem những vở không có một tí gì gọi là sex. Hàn Quốc đem đến một vở nặng phần tâm linh, nhập đồng. Một cô bạn kể mới xem một vở thể nghiệm ở Sidney trong đó có một diễn viên làm tình với một .. con cá. Theo cô thì khá vô nghĩa và không thú vị.

Khi sang New York, được xem một nữ nghệ sĩ biểu diễn với một tấm voan mỏng khoảng 60’, tôi thấy ngây ngất với bửa tiệc của cái đẹp mà mình được thưởng thức. Có thể nói là cô ta đã .. làm tình với mảng voan đó để tạo cho mình liên tưởng đến sự giao hòa của đất trời rồi thiên nhiên và sự sống sanh sôi nảy nở từ đó, mầm chồi nứt nụ, hoa nở, sương tan, tuyết trôi, con người lao động chống chỏi bảo táp phong ba, cánh bướm, chim bay, sự hồi sinh và tình yêu tái tạo thế giới như đợt sóng nhân gian liên hồi vô tận. Giây phút cuối cùng, cũng là lần đầu buông tuột tấm voan, chào khán giả với một thân thể trần truồng đẩm mồ hôi, người nghệ sĩ đã nhận những tràng pháo tay không phải cho những đường cong diễm tuyệt mà dành cho một tài năng.


@ Năm 1999, vở Thanh tẩy (Cleansed) của Sarah Kane, có hai cảnh làm tình thật sự trên sân khấu đã khiến tôi cảm giác bị shock mãi đến bây giờ. Không phải tôi bị choáng váng vì hai diễn viên làm tình quá thật trên sân khấu và vì toàn vở kịch có nhiều cảnh shock hơn. Hai người đồng tính tỏ tình với nhau lần lượt bị cắt lưỡi, cắt tay, cắt chân, xiên lình và cắt cổ.

(3)

Kẻ ra tay thủ ác, thường khoác áo bác sĩ, có vẻ là người thống trị khu đại học ấy lại chỉ có khả năng bỏ những đồng tiền vào chiếc hộp để xem ngưười phụ nữ múa cột. Khi có được cô trong tay thì gần như anh ta không còn đủ “bản lĩnh đàn ông” để đem lại hạnh phúc cho cô. Một vài chi tiết thơ mộng như những cánh hoa hướng dương xuyên đất vươn lên che phủ cô gái và hồn ma người anh thì chưa đủ lãng mạn để làm mềm đi bản dựng đến độ cậu diễn viên trẻ của nhà hát Berlin tức tối nói với tôi là có lẽ ông đạo diễn lớn tuổi đến từ Hambourg đã không hiểu hết những ẩn dụ và thông điệp của nhà viết kịch tự tử ở tuổi 28, sau khi viết xong năm vở gây sóng gió chốn kịch trường Au Châu, muốn gửi gắm. Nhiều nhà phê bình sau nầy vẫn cho là không thể đơn giản khi muốn giải mã ngôn ngữ kịch đầy chất thơ chứa nhiều tầng nghĩa của Sarah Kane với nhiều hình ảnh mang tính ẩn dụ từ thời cổ đại Hy lạp đến triết lý của Nietzche. Tình yêu là sự hòa hợp hay là một cuộc chiến? Cho đến giờ Sarah Kane vẫn còn để mở kết luận nầy cho những ai quan tâm đến sáng tác của cô. Riêng tôi, khi xem cảnh làm tình giữa cô gái với hồn ma người mình yêu nhất, trong thời điểm đó, không gian đó lại là một cảm xúc ngậm ngùi khi liên tưởng đến một đất nước bị tách đôi; đến lúc được ráp lại làm một, luôn phải có khá nhiều đắng cay, nghiệt ngã phải trả.

(4)

@ Cũng năm đó, được xem vở “Ngôi nhà của Bernarda Alba” của Garcia Lorca tại Berlin do nhóm sinh viên năm cuối thuộc Viện Sân Khấu Ðức biểu diễn, tôi thấy một xử lý khá thông minh của đạo diễn. Dưới sự khống chế khắc nghiệt của bà Bernarda Alba, không muốn cho hạt giống tình yêu nẩy nở trong ngôi nhà của mình, mỗi chiếc giường của các cô gái son trẻ trong nhà ấy như từng cổ quan tài. Cuối cùng, người tự tử, người nổi loạn trốn đi, đưa đến sự suy xụp của “đế chế Bernarda Alba”. Hình ảnh cuối đập vào mắt mọi người là một người đàn ông trần truồng vẫn được cô gái mà bà yêu nhất dấu trong “chiếc quan tài” của cô hằng đêm, bung chạy ra. Không cần phải bày ra một giây nào về cảnh ân ái giữa họ, vẫn nói lên được sự bất lực của tham vọng thống trị muốn đi ngược lại những quy luật của cuộc sống, tình yêu.


@Cảnh sex trong điện ảnh là điều mà khán giả đã xem đến độ nhàm chán nếu không có những xử lý mới và đắt giá. Trong lĩnh vực sân khấu, càng không thể xem thường và xử lý chuyện nầy tùy tiện. Theo những vở tôi đã được xem, chưa bao giờ sân khấu các nước đưa yếu tố nầy ra công chúng với xu hướng câu khách. Những đạo diễn sân khấu tài năng khi đưa cảnh nầy vào tác phẩm luôn để trao đến khán giả một thông điệp đầy tính nhân văn. Ở Việt Nam, chưa nên đòi hỏi điều nầy nơi đạo diễn lẫn khán giả khi bản thân tác giả kịch bản còn chưa có những cái nhìn cách mạng và cách thể hiện quyết liệt, trên cơ sở minh triết của các nền triết lý phong phú mà chúng ta đã thừa hưởng được của Phương Ðông.


Nguyễn Thị Minh Ngọc.

2 008, tháng Năm.

Cac canh trong vo Cleansed cua Sarah Kane:

1- Co gai va hon ma nguoi anh trai.

2 - Co gai chi mo duoc giong het anh minh

3 - Mot anh dong tinh bi XXX cat luoi sau khi thot loi yeu duong voi ban tinh

4 - Nguoi anh bi XXX tiem vao mat va chet ngay dau vo kich

XXX: thường khoác áo bác sĩ, có vẻ là người thống trị khu đại học ấy







.



Tags: | Edit Tags



Wednesday May 14, 2008 - 10:15pm (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for May 15, 2008

Comments(2 total) Post a CommentKhuê … Offline Viết ngắn (mà hay) thế cô. Phải chi thêm vài vở nữa và mỗi đoạn dài gấp đôi nhỉ?

;))

Wednesday May 14, 2008 - 01:31pm (PDT) Remove Comment
8Fieu Offline @ Khue Viet
bao xin co 500 chu, viet lo gan 1.000 chu roi, nen bi cat bot do.


Thursday May 15, 2008 - 08:46pm (ICT) Remove Comment

Labels:

Cleansed cua Sarah Kane

Entry for May 08, 2008
Dinh dich Mephisto nhung do co noi de nghi viet ve chuyen sex tren san khau.

Xem lai Cleansed cua Sarah Kane, thay thu vi voi viec dich vo nay hon, du biet rang se kho dung duoc o Viet Nam lan tai Thanh fo nay.

“Love is war” and “love is a unity”

a play that literally bursts with atrocities like cut-off tongue, hands, and feet, an impaling scene and lots more

A nightmare, self-contained, like something jointly dreamt by Goya and Odilon Redon, a vision of monsters and victims”

The world is a prison, disguised as an educational institution, which trains you with the utmost brutality for nothing much else than dying” (Peter)

Ten cua bac si bao dam Tinker trung voi ten cua nguoi viet "fong thanh" cho Sarah Kane khi fe binh vo kich dau tien cua co la: "a disgusting piece of filth".

(Tinker is society), “abstract complex systems are buildings” (the institution is society), “societal powers are restraints to the individual,” “abstract authorities are persons,” “society is a killer,” and finally, to form a transition to the next chapter, “love is a killer.”

Nam 1999, duoc xem vo nay tai Berlin, may cau tre cho la ong dao dien lon tuoi qua nen khg hieu tac gia.)

Tac gia tu tu chet o tuoi 28 (nhu mot nhan vat cua minh). Co nguoi cho la khg chiu noi ap luc cua su thanh cong den som.
Tags: cleansed | Edit Tags



Thursday May 8, 2008 - 03:04am (ICT) Edit | Delete

Next Post: Entry for May 08, 2008

Comments(1 total) Post a Comment

Labels:

The purpose of the Theatre.

Entry for May 07, 2008
Hom sang new York, thang Tu, 2008, co nguoi gui cho tui kich ban Mephisto bang tieng Anh, nhg chi co loi thoai chu khg co ten nguoi noi.

Tu lau, toi van muon co kich ban nay de tap voi sinh vien, boi vi no dinh liu nhieu den nghe nghiep cua ho.

Vi du nhu:

The purpose of the Theatre.

The theatre director approaches the theatre from a financial perspective, and is looking to make an income by pleasing the crowd;

The poet aspires to create a work of art with meaningful content.

An actor (also referred to as the fool or merry person) seeks his own glory through fame as an actor;

Many productions use the same actors later in the play to draw connections between characters:

- the director reappears as God,

- the poet as Faust,

- the buffoon as Mephistopheles.[1]

http://en.wikipedia.org/wiki/Faust_Part_One


Khoang nhg nam 80, chung toi duoc xem film Mephisto nay o Viet Nam.

Mephisto is a 1936 novel of Klaus Mann on which an award-winning 1981 movie was based. The novel adapts the Mephistopheles/Dr Faustus theme by having the main character Hendrik Höfgen abandon his conscience and continue to act and ingratiate himself with the Nazi Party to keep and improve his job and social position.


1999, khi sang Duc, tui kiem duoc kich ban nay bang tieng Duc. Ve nho anh Bui Khoi Giang dich nhg anh ban qua nen chuyen khg thanh.

The novel portrays actor Hendrik Höfgen's rise from the Hamburger Künstlertheater (Artists' Theater Hamburg) in 1936 to nationwide fame in 1936. Initially, Höfgen flees from the Nazis to Paris because of his communist past but realizes that he has already lost some of his friends. When he returns to Berlin, he manages to win over Lotte von Lindenthal, the wife of a Luftwaffe general who also thinks highly of him. He accepts the role of Mephisto in Faust Part One and realizes that he actually made a pact with evil (i.e. Nazism) and lost his humane values (even denunciating his mistress "Black Venus"). There are situations where Höfgen tries to help his friends or tells the prime minister about concentration camp hardships, but he is always concerned not to lose his Nazi patrons.

http://en.wikipedia.org/wiki/Mephisto_%28novel%29

Luc kiem nhg tai lieu lien wan den tac gia va tac fam truoc khi dich ra tieng Viet

Mann's most famous novel, Mephisto, was written in 1936 and first published in Amsterdam. The novel is a thinly-disguised portrait of his former brother-in-law, the actor Gustaf Gründgens. The literary scandal surrounding it made Mann posthumously famous in West Germany, as Gründgrens' adopted son brought a legal case to have the novel banned after its first publication in West Germany in the early 1960s. After seven years of legal hearings, the West German Supreme Court banned it by a vote of three to three, although it continued to be available in East Germany and abroad. The ban was lifted and the novel published in West Germany in 1981.

Mann's novel Der Vulkan is one of the 20th century's most famous novels about German exiles during WWII.

He died in Cannes of an overdose of sleeping pills. He was buried there in the Cimetière du Grand Jas.

http://en.wikipedia.org/wiki/Klaus_Mann

Labels:

Vietnam's femaledramatists

Entry for March 23, 2008
Report
The Supermuses of Stage and Screen: Vietnam's Female Dramatists

Catherine Diamond
Figures

--------------------------------------------------------------------------------

According to Catherine Diamond's survey, Vietnam's contemporary theatre has an unusually large number of women participating in playwriting and directing. Several, as well as performing, are involved in both. Moreover, the plays being presented in the two largest cities, Ho Chi Minh City and Hanoi, have female characters dominating the stage. The women dramatists exert an unusual amount of creative control in the theatre. Some work in close collaboration with male colleagues or have spouses in the theatre; others have been at odds with male management and prefer to work with other women artists. The predominance of successful women playwrights and directors may be the result of several factors: the centuries old tradition of female-oriented theatre; the recent activities of women in military theatre troupes; the Communist Party's attempts to legislate equality in a society with lingering feudalistic attitudes; and women's transmission of family traditions in theatre.

Catherine Diamond is a professor of theatre in Taiwan, where she is a director with Thalie Theatre, Taiwan's only English-language troupe. Also a dancer, she has published several times in ATJ and has written fictional accounts of dancers in Asia in Sringara Tales.
Backstage the actors of a cai luong troupe--southern Vietnam's musical theatre--are in a panic. Their leading man has become a famous star and deserted the company for more lucrative television contracts, leaving them to face his angry fans. The only one who can rescue them now is his diligent and devoted, though mediocre, understudy. After getting a pep talk from his elderly mentor, the understudy dresses and goes out to face the unruly crowd. The actors hold their breath. There is a moment of calm; hesitant smiles appear; then the catcalls erupt and the crestfallen understudy flees backstage. So begins The Solitary Flight (Bai tren co dan, 1996), a play by Ai Nhu, actress/ playwright/director in Ho Chi Minh City's contemporary theatre. [End Page 268]

Ai Nhu is one of Vietnam's several multitalented female dramatists. Almost half of the plays showing in Ho Chi Minh City or Hanoi in 1997-1998 were either written or directed by women. That such a high proportion of women are in creative control of the theatre is rare not only in Southeast Asia but in much of the rest of the world as well. These women, however, have little in common except their commitment to theatre. Some come from artistic families; some have had to fight parental disapproval to pursue their careers. Some are single, some divorced, some happily married. Some belong to the Communist Party and are supported by the state; others are not only not party members but have wary relations with the government.

Although all openly admit to the inequalities between men and women--and the pervasive double standard in Vietnamese society, in which polygamy is still common--there is no consensus among them that they have faced particular discrimination in their careers. Nor have they all formed exclusively female bonds. Some of them have collaborated with each other on several productions and created good working relationships that sustain them through the inevitable difficulties; others have established a similar close rapport with male colleagues. [End Page 269]

Moreover, their work could only with difficulty be labeled "feminist"--if feminism means a self-conscious awareness of being excluded from prevailing (male) determinants of cultural, social, sexual, political, and intellectual life and involves a critique of such conditions. Of the rhetorical devices found in feminist plays written by European and American playwrights--such as the reversal of sex roles to expose double standards otherwise accepted as normal; the presentation of historical figures as role models; satire of traditional sex roles; and the portrayal of women in situations oppressive due to their gender--only the latter device is employed with any regularity. Thus, aside from their perseverance and talent, Vietnamese women actor/director/playwrights do not have an easily discernible common denominator to explain their success. Instead, they must be considered as individual multifaceted artists, each contributing to the general theatrical milieu in which they work, though their collective presence also influences the nature of that context.


Ho Chi Minh City Dramatists
Ai Nhu, like her Ho Chi Minh City colleagues Hoa Ha, Tram Huong, and Nguyen Thi Minh Ngoc, attended the College of Film and Theatre's directing program. Now in her mid-thirties, she defied her mother and did not follow her family to the United States. She has appeared in over forty productions, written ten produced plays and directed fifteen, but her mother, still unimpressed, continues to urge her to get out of theatre.

After Ai Nhu graduated in 1991, she was accepted by the Cau Lac Bo San Khau The Nghiem (The Nghiem Theatre Club)--the premiere theatre company in Ho Chi Minh City for experimental drama. It does not have a stage but presents its productions in a large hall with 240 movable seats. Actors perform on movable platforms with little or no stage scenery. Directors must accommodate the popular actors' film and television schedules, and production budgets are very small, averaging $100, but performances are often sold out and run on a rotating basis for years. The Solitary Flight has been showing since 1997, and Tinh 281, a comedy in which Ai Nhu was concurrently acting, has been appearing since 1995.

Like many contemporary Vietnamese plays, Tinh 281, written by the male playwright Minh Hoang, has two plots that are linked tenuously and then come together at the end. The number 281 is the paging number in Ho Chi Minh City, and in the first plot a man and woman answering marriage ads carry on their courtship and are overheard by the operator. The second plot concerns a famous but poor writer and his unhappy wife who keeps leaving him. Their young [End Page 270] daughter seeks solace through a friendship with the telephone operator who, in the end, facilitates the reunion of the suicidal writer and his wife. The two lovers finally meet, discovering that although they are nothing like what they had been fantasizing--the woman is very large and the man very small--they are compatible enough. Ai Nhu, an accomplished comic actress, performs the discontented wife; her fourteen-year-old daughter had been appearing as the girl until it was decided at the end of 1997 that she had grown too tall for the part.

For Tet, the Vietnamese New Year, the theatre troupes in Ho Chi Minh City prepare happy plays. Ai Nhu was selected by Thanh Hoang to direct his new play Betel Nut (Trau cau, 1997). Working around the clock to have the play ready in time, Ai Nhu rehearsed the five women and one man, Thanh Hoi, her longtime colleague who regularly appears in her own plays and has helped her cowrite some of them.

Betel Nut, like Tinh 281, is a comic play with a double plot. The subplot involves a widow loved by her former husband's brother, but the primary plot concerns her daughter who wants to marry a foreigner but fears her betel-chewing grandmother will make a bad impression on him. Elaborate plans are created to keep them from meeting, until the grandmother, realizing she is being tricked, reveals why she chews betel. As a young woman during the 1945 War of Independence against the French, she was pursued by French soldiers. Knowing that betel, which leaves the mouth looking bloody, repulsed [End Page 271] them, she chewed it to protect herself. Her granddaughter, full of remorse, accepts her betel-chewing grandmother, who then says she will give it up. Betel Nut exemplifies a trend in many current plays: to instruct the younger generation about the suffering of older people. Those born after the departure of the American military in 1975 have little knowledge of their parents' and grandparents' struggles. Lest all the sacrifices be forgotten or that the young people grow ashamed of what they perceive as backward habits, moving stories are told to inform and remind.

While performing and directing, Ai Nhu is also writing a new play. She says the greatest drawback to her multiple responsibilities is the threat to her health. She gets sick with anxiety about getting shows ready on time. Aside from caring for her two children, Ai Nhu also helps her brother run a photography studio, but she is unusually lucky in that she has a husband who supports her career.

Director Hoa Ha has not been so fortunate. Responding to a former boyfriend's claim that a woman could not amass a fortune by herself and sustain a career, she has become not only a shrewd and wealthy businesswoman, but also a successful director of both modern drama and cai luong. Having argued with the male management at the The Nghiem Theatre Club, she now works at a new theatre, the French-affiliated IDECAF. IDECAF has become a rival theatre to The Nghiem, though many of the same actors and directors work in both places. IDECAF has a small proscenium stage with 320 fixed seats, which makes it suitable for realistic dramas but less flexible for experimental works.

Although she has appeared as a cai luong actress, Hoa Ha is primarily a director who works closely with two women: playwright/director/actress Nguyen Thi Minh Ngoc and the well-known actress Phuong Hong Thuy. These two often help her conduct rehearsals because she is busy with her many business affairs. Her erratic schedule is endured, however, because she is a respected director and often uses her money to support productions.

In 1996, she directed two versions of The House with No Men (Ngoi nha khong co dan ong, by Ngoc Linh, 1993). Resembling a comic version of The House of Bernarda Alba, it centers on a woman who oppresses her three grown daughters because her husband fled on a boat with another woman. Since then she has accepted no man for herself or her daughters. The eldest, played by Ai Nhu, is a flirt whose double entendres keep the audience in stitches. When the youngest, who has a boyfriend on the sly, discovers she is pregnant, she flees with the impoverished man. When a son is born, the sisters are frantic about their mother's reaction but finally she accepts her grandson. [End Page 272] Aside from being a witty popular comedy, the play allegorizes the lingering prejudices and animosities of the postwar years and the hope of reconcilement in the future through the birth of the grandson. Hoa Ha had the script adapted for cai luong and what was a comedy became a sentimental melodrama augmented with melancholy songs. Hoa Ha herself played one of the daughters and Minh Ngoc played the mother's unmarried sister in both productions.

In December 1997, Hoa Ha adapted and directed a Vietnamese version of the Chinese novel Raise the Red Lantern (Den long do cao cao), which was presented at IDECAF. Made into a well-known film by Zhang Yimou, it tells of the horrifying lives of the wives in a rich man's household. Performed under a harsh red light and with bombastic music, the Vietnamese production was played more for its melodramatic excesses than as a critical exploration of a soul-destroying system. Local reviewers, however, criticized Hoa Ha's textual adaptation but praised the overall production. While all of these productions have female characters dominating the stage, they purport no unified message. The cruelty endured by the wives in Raise the Red Lantern suggests nothing new to a society in which it is generally accepted that a woman's lot is to suffer. [End Page 273]

While Raise the Red Lantern was playing to full houses, Hoa Ha was directing a modern drama, The Virtuous Woman (Nguoi dan ba duc hanh), written by Minh Ngoc for Saigon's three-hundredth anniversary in 1998. ("Saigon" is still used to refer to the older central part of Ho Chi Minh City.) The drama stars one of Vietnam's most beloved performers, Hong Van, who plays a cai luong actress in the 1940s, the golden age of cai luong. The beautiful actress must negotiate her personal and professional life between her jealous journalist husband and a French officer who is pursuing her. Inside a play-within-a-play structure, the actress prepares for a new role by visiting a mental asylum. There she befriends an inmate who turns out to be the personification of the Audience. Thus, while set in the 1940s and featuring a four-women chorus and a flute-and-drum accompaniment to recreate and revive the best of traditional cai luong, The Virtuous Woman is a period piece presented in an entirely new and abstract structure. Hoa Ha herself, perhaps even more than the plays she directs, provides an inspiring model for other women in theatre. Unmarried with an adopted son, she is widely traveled. Her friends like to say that in 1985 she had nothing but two empty hands; in 1998, in addition to her business and theatre interests, she plans to open Ho Chi Minh City's first bookstore cafe. [End Page 274]

Her friend and colleague, Nguyen Thi Minh Ngoc, is one of Ho Chi Minh City's most prolific writers and among the most active stage practitioners. Unmarried at forty-five and daughter of a cai luong actress, Minh Ngoc not only writes plays for both theatres in the city but also writes short plays for schools and factories as well as novels, stories, and film scripts. In addition to The Virtuous Woman, she submitted another new play for the Saigon 300 Festival based on the life and times of the revolutionary hero of the south, Nguyen An Ninh.

Minh Ngoc--while acting two character roles in Raise the Red Lantern, directing her student cai luong troupe that travels out every night to perform in the countryside, assisting Hoa Ha in directing The Virtuous Woman--was also serving as an adviser in the filming of her script Sea Moon (Hai Nguyet) being shot at a unique old house on the outskirts of Ho Chi Minh City. Sea Moon is a girl who lives with three generations of her family in the old family mansion until 1975. The family, grown rich from making fish sauce, flees with the fall (liberation) of Saigon, but the girl remains. As the years pass without communication, the family assumes she has died, but one day the grandmother, tasting the family fish sauce, claims Sea Moon is alive. When the father returns to Vietnam to bury the grandmother accompanied by a daughter of another wife, he meets the girl who stayed behind. They all participate in the burial ceremony, but Sea Moon does not rejoin them and remains in the family house.

In September 1997, Minh Ngoc went to the Brussels Cultural Center in Paris. There she performed in a French/Vietnamese collaborative play, Encore, or Emma's Time, about a girl with a French father and Vietnamese mother who goes back to visit her mother's hometown, Hue, for the first time. Minh Ngoc played the aunt in Hue, using the appropriate central Vietnamese dialect. On the same occasion, a French/Vietnamese actress, Suzy Lorraine, presented Minh Ngoc's play Beyond the Truth. This monodrama, set in the twenty-first century, depicts an elderly actress reminiscing about her former loves for a reporter. Alone, she speaks into a cassette recorder, responding to the questions he left on her message machine.

The personal histories of Minh Ngoc's characters often coincide with Vietnam's turbulent national history. Whatever the women's dreams or strivings, political upheavals impinge on their public actions and their private psyches. In addition, like Ai Nhu's A Solitary Flight, many of Minh Ngoc's scripts feature actors in the lead roles--as if the theatre served as an artistic microcosm, a distillation of the social/political world beyond her control. Southern playwrights, both men and women, frequently feature cai luong performers in their plays. For not only were traditional performers much beloved, but [End Page 275] their appearance now represents a certain nostalgia for a culture severely challenged from many directions. Also, like Ai Nhu, Minh Ngoc rejected opportunities to leave the country, insisting that it is the wellspring of all her writing. She has translated The Visit, D¨urrenmatt's play about a rich woman who returns to her village to exact revenge against a man who jilted her. With promises of riches, she is able to coerce the whole town into sacrificing him. Minh Ngoc has adapted it to Vietnam and the situation of returning Viet Kieu, the wealthy overseas Vietnamese. In 1998, she was also directing The Golden Age, by one of Australia's foremost playwrights, Louis Nowra.

Although she has been writing since 1976, none of her plays has completely satisfied her. The Stone Wife (Hon vong phu), which was also made into a cai luong, was her most financially successful play, but her works have won more critical acclaim than financial reward. As the best actors are overcommitted, she spends a great deal of time waiting for them to show up at rehearsals. She laughingly suggests she is being punished for some crime in her former life, but she doesn't let the time go to waste: she simply writes another scene in the interim. Minh Ngoc's greatest frustration is having to rewrite scripts for government officials or for the actors. There are three claims on a playwright she says: to aspire to one's own highest artistic standard; to please the audience; and to pass the censors. One can accomplish two but never all three.

Her friend Tram Huong, a younger woman in her thirties, writes primarily for television and film. The only writer in her family, Tram Huong was much influenced by her mother in learning about Vietnamese traditions and customs. She studied engineering but it was while working as an editor for a Ho Chi Minh City magazine that she taught herself writing. Only in 1996 did she enroll in the theatre college's directing program from which the others have graduated. She decided to attend since she felt so much frustration when directors and actors changed her scripts. She wants to have complete creative control from beginning to end.

Her most famous work to date has been the television play The Spy Woman (Nguoi dep tay do, 1994). Its heroine is forced into a loveless marriage with a rich man. After ten years in the wealthy household, she decides to assist in the war effort against the French. She agrees to seduce a Vietnamese officer working for the French army to pry him away, but instead falls in love with him. They are discovered by the French but manage to escape. The drama was popular not only inside the country but also with Vietnamese abroad.

Tram Huong expresses a strong feminist bent: Vietnamese women, she says, are superwomen who have suffered more, overcome [End Page 276] more, and are therefore stronger than men. The women carry the greater burden in the society, she says, whether in war or peace. A single mother, she currently works at the Women's Museum and supplements the small salary with her writing. In December 1997, she was writing another television drama, Fiery Dusk (Nang quai), referring to the sun burning hottest just before sunset--like the fiery desire for life that people experience just before death. The play focuses on the personal life and career of a female doctor. But rather than singling out her contributions, the play emphasizes the extraordinary strength of the ordinary women she encounters.


Hanoi Dramatists
Like their counterparts in the south, women playwrights and directors are a strong presence in Hanoi's theatre scene. Although they do not simultaneously fulfill as many roles, they often work with each other in close collaboration. Foremost is Pham Thi Thanh, one of the founding members and former chairwoman of the Youth Theatre (Nha Hat Tuoi Tre), the city's most active and profitable theatre. Although half of its repertoire is for children, the Youth Theatre has been the one constant site of new plays for an adult audience. Founded in 1978, the 650-seat theatre with a proscenium stage has featured Western classics, melodramas, realistic dramas, and pantomimes. The theatre now evinces the presence of a new concept in Vietnamese theatre: corporate sponsorship. Plessez, a vitamin company, advertises on its tickets and posters.

Following the precedent of two other women stage directors who assumed the chairmanship of the Youth Theatre--Ha Nhan and Pham Thuy Chi--Pham Thi Thanh has been instrumental in encouraging new playwrights and staging controversial plays. Unlike many established Vietnamese dramatists, she does not come from a theatre family. In fact, she is a member of the political elite whose forebears served not only as officials in the royal court but as revolutionary ministers as well. She began her performing career at fourteen, singing and dancing as an actress of cheo--the indigenous traditional theatre of northern Vietnam--hiding her activities from her parents who would certainly have disapproved. During the American War, she joined a clandestine troupe that roamed the countryside exhorting the people to fight and resist. After acting for fifteen years, she was sent to the Moscow Theatre Institute in 1972 to study directing.

Upon her return, she helped establish the Youth Theatre and then directed the country's first full-length Shakespeare performances: Romeo and Juliet (1982) and Othello (1988). Having directed more than ninety plays, she has staged both Western classics and new or unknown [End Page 277] Vietnamese plays, sometimes going back into the recent past to present excellent scripts that had been overlooked or were too politically controversial at the time of their writing. Such was the popular Vu Nhu To, written in 1942 by the historical writer Nguyen Huy Tuong (1912-1960) but not performed until Thanh's production in 1995. Although it concerns a peasant architect commissioned to build the country's greatest palace for a corrupt king in the sixteenth century, the play challenged current political corruption, military coercion, and the continued plight of Vietnam's rural poor. Both the corrupt king and the peasant architect, however, are motivated by two women characters to pursue their modes of action, whether self-aggrandizing or nobly selfless. Pham Thi Thanh's production combined film, dance, realistic theatre, and a more elaborate set design than Vietnam's realistic theatre usually can afford on the average budget of $500.

Pham Thi Thanh has received many awards for her direction of traditional and modern dramas. In 1997 she was accorded the state's highest honor: People's Artist. Divorced with grown children, Thanh spends a good deal of time traveling abroad, representing Vietnam as chairwoman of the International Association of Theatre for Children and Youth (ASSITEJ). In 1998, she left the Youth Theatre to work at [End Page 278] the Department of Performing Arts where, with the sponsorship of the Ford Foundation, she organized a conference for Asian dramatists to discuss with their Vietnamese counterparts issues of cultural identity in traditional and contemporary Asian theatre.

While directing at the Youth Theatre, Pham Thi Thanh worked in close collaboration with another former cheo actress turned playwright: Nguyen Thi Hong Ngat. Like Thanh, Hong Ngat studied at the Moscow Theatre Institute for six years, concentrating on acting and writing. A famed actress, Hong Ngat is now a well-respected poet and the only woman writer of cheo. Often called "folk opera," cheo is a musical drama with sections of difficult verse. One of her modern cheo dramas was A Match Made by God (Duyen troi, 1996), based on a traditional legend about a princess who marries a poor man and angers the king. Principal in the text, is not only the heroine but the clowns: cheo is known for its social satire, and the fool, called lao (played by a man or woman), is as central to the action as the protagonist; thus the playwright must show versatility in composing verse and comic sequences. In fact, Hong Ngat has said that she will write only spoken dramas in the future because writing cheo texts is too difficult and time-consuming for an ever-diminishing audience. Thanh directed A Match Made by God, but her initial collaboration with Hong Ngat began in 1990 with their adaptation of Erich Segal's Love Story. Since the story fit well within the familiar lines of local melodrama, the result was popular.

Hong Ngat is more interested now in writing contemporary dramas--which recently caused some trouble during her participation at the Ford Foundation and Asian Cultural Council-sponsored Asian Pacific Performance Exchange (APPEX) held at UCLA in 1996. Although invited because she was an eminent artist of a traditional Vietnamese form, she wanted to use the opportunity to explore contemporary issues. The organizers, however, obliged her to contribute her traditional skills--demonstrating the problem of Asian artists who are pigeonholed by American academics. Still, she began writing a play about the love and friendship between a Vietnamese peasant woman and downed American bomber pilot called A Passion for Modern Times (Nguoi cua hom nay). Despite a San Francisco director's interest in the script, it has not yet been performed in either the United States or Vietnam.

Her most famous play, Flying to Paradise (Len tien, 1994) addresses heroin addiction. In the 1990s, stage plays and television dramas about one of Vietnam's most serious social problems have become legion, and most playwrights in the north have addressed the drug problem. (Writers in the south do not seem so moved, although students at the College for Theatre and Cinema in Ho Chi Minh City performed [End Page 279] an antidrug play.) Having known families that were devastated by a member's addiction, Hong Ngat wrote from personal observation and created a more viable script than many who have written formulaic condemnations. Flying to Paradise was first performed by the City Theatre of Haiphong, the port city that has been the focus of much of the government's worry about drugs. The play has been performed more than four hundred times by half a dozen troupes all over the country. Even on such a serious topic, Hong Ngat acknowledges that humor reaches people better than preachiness. Hong Ngat writes one play a year and lives with her fourth husband, a writer and literary critic.

Her contemporary, Hong Viet, following the success of her first staged play, What Do You Come Back To? (Em ve dau?, 1997), was also working on an antidrug play, SOS Green Light (SOS mau xanh) in 1998. What Do You Come Back To? has been a favorite at the Youth Theatre, where Hong Viet's husband is one of the principal actors and serves as vice-director. An actress during the war, she then worked as an assistant director in a military troupe for twenty years. She managed to complete this first full-length play only after retiring from the army and graduating from the College of Theatre and Cinema in Hanoi.

Aside from its run at the Youth Theatre, What Do You Come Back To? has been performed by five different troupes and includes many [End Page 280] themes popular with socially conscious writers: the effects of the new materialist economy, the position of women, rampant corruption, and drug dealing. It begins with a husband carrying in a big boom box and surprising his young son (played by an actress) with the gift. Acting the stereotypical nouveau riche, he lavishes money on an elderly female neighbor and presses sexy new dresses on his bewildered wife, telling her she can give up her job at the local school now that he is making so much money. Soon after revealing that the cash has come from dealing heroin, however, he is caught by the police. Condemned to ten years in prison, he persuades his wife to file divorce papers in order to release her. Although she refuses, she is tempted because waiting in the wings is a doctor who is in love with her. After five years of resisting the doctor's advances, she finally agrees to his proposal. But when she learns that her husband has been released and is leading a simple life in the mountains, she rushes to him. The play ends with the family living a tranquil rural life in complete contrast to its materialist aspirations at the beginning. The plot's simplistic morality not only reflects nostalgia for the simple traditional life that now eludes urban dwellers, it also avoids the reality of the poverty of country life. Northern dramatists look to the countryside as the site of their yearning for a golden past during this time of great cultural and social upheaval; the playwrights in the south, however, tend to locate their nostalgia in the theatre's golden years.

Breaking up the slow and sentimental second half of the play is an utterly irrelevant comic episode. Three inmates of the prison where the husband is doing time audition for an upcoming cultural show. Two men and one woman imitate famous performers and politicians to the delight of the audience that does not question the inconsequence of the interlude. Its star, Van Dung, is a well-known comic who makes no attempt to portray a real inmate: she appears on stage with immaculate manicure, makeup, and coiffeur but throws her body into lunatic convulsions. Van Dung's lively verbal and physical delivery raises another unique aspect of Vietnamese theatre: the predominance of the female comic. Ai Nhu, Minh Ngoc, and Hong Van in the south are outstanding comic actresses; Van Dung and her colleague Tu Oanh, who plays juvenile roles, both male and female, often dominate the stage with their comic shtick. They show they are perfectly capable of preserving their feminine beauty while indulging in grotesque movements and satirical wisecracks.

Pham Thi Thanh, Nguyen Thi Hong Ngat, and Hong Viet, all in their fifties, are making significant changes of direction in their theatre careers in 1998, but none is abandoning theatre. Hong Viet says she wishes there was more money available for writing, since only [End Page 281] twenty playwrights in the whole country are chosen to receive government funding. Hong Ngat says Vietnamese playwrights face problems different from those in other countries since the demand for new plays is high and writers cannot keep up with the demands from theatre companies, but the financial remuneration is insufficient.

Still, the most pessimistic of all the playwrights interviewed was also the youngest and least experienced: the twenty-six-year-old Hoang To Mai. Daughter of a well-known literary critic, she was the youngest recipient of an Asian Cultural Council grant that allowed her to go to New York and observe theatre. Working as a journalist covering the local cultural scene, she is critical of the stagnation she sees in the theatre, charging that it is far behind contemporary developments in literature and painting. She bemoans the utter lack of anything new and makes little attempt to enter into the established theatre of her elders. Instead, she has written a play in English, Blue Shirt with a White Collar, that has little of the comedy or sentimentality audiences expect. A wistful lyrical play, it is about a doctor who serves among the Dzao, one of the ethnic minorities, and, having saved the life of a mother and daughter, receives some blue cloth from them. She gives the cloth to her own daughter and the girl has a shirt made from it by another Dzao woman. The shirt is invested with magical properties that make her so beautiful she catches the attention of a painter who paints her portrait. One night, the blue shirt flies away when the Dzao seamstress rejoins her husband in the mountains. The doctor and her daughter never see the shirt again until twenty years later when they come across the painting in a museum.

Full of disembodied voices, ellipses of time, and the interweaving of the Dzao village and doctor's residence, the entire play exists in a dreamlike memory. Although it has not been performed, it is scheduled to be published in the army journal. To Mai says she will probably direct it herself since most directors will not touch such an uncommercial script. Similarly, literature students can read contemporary foreign plays by Pirandello and Beckett, but no one will stage them. The actors too, she says, are more entertainers than artists, and show little initiative to explore anything new.


The Stage as the Site of Freedom
With such plays being written, adapted, or directed by women, one can see that female characters either dominate the stage or play roles that are as central to the action as those of the men. One rarely sees male characters taking center stage while the women remain on the periphery. That so many women are writing and directing plays certainly contributes to the numerous strong roles for women and the expression of women's views toward family, work, war, and peace. [End Page 282]

The causes are elusive, however. One could suggest that because so many men were killed in wars over the past fifty years, women have had to take their place in many public spheres. In addition, the communist policy of equality between the sexes has allowed greater numbers of women to become involved in political and military affairs, especially in the north. During the American War, plays focused on the soldier, the guerrilla fighter, and the spy. After the war, plays emphasized the plight of women: the widowed, homeless, childless, poor, and ill. In the 1990s, however, female characters sometimes appear as villains representing the worst aspects of modern materialism that distorts and destroys relationships. More often, they continue to depict the traditional female virtue of endurance, demonstrating a personal integrity that withstands all adversity without abdicating to traditional patriarchal values (but without necessarily challenging them either).

The traditional Vietnamese stage has always included actresses and featured strong women's roles. Tuong--or hat boi as it is known in the south, the stylized musical theatre derived from the Chinese in the thirteenth century--did not follow the later Chinese custom of removing actresses from the stage or segregating them. Many plays feature women warriors and exemplary female nationalists. Cheo, too, is very female oriented: not only are there strong central women characters, but its plots usually take the marginalized and satirical female view of the status quo.

Current television dramas present a much narrower view of women's life and experience--emphasizing their suffering--with characterizations of sympathetic but ineffectual mothers and ruined daughters, both spending 50 percent of their on-air time weeping. The stage offers a much greater variety of character types and situations, more subtle ranges of emotion, and more levels of sensitivity and intellectual understanding. Moreover, actresses often star in the comic roles and share the limelight equally with male comedians.

What all these women dramatists share is a strong love of country. In the south, however, country means something different from government and the Communist Party, while in the north the writers are more closely aligned with the government's and the party's policies and more accepting of the three forming an inseparable unit. The year 1975 is embedded in the subconsciousness of the south. And while some plays address what occurred with poetic directness, others employ circumlocution, by setting the action during the war against the French--when the country was united against a foreign enemy rather than turned against itself. Not always sharing the same political convictions as their colleagues in the north, the southern playwrights concentrate more on the creative telling of the story, presenting their perspectives through more personalized and individualized stories. [End Page 283] The northerners, by contrast, stress the ideological message and present more generic situations.

Rather than finding a raison d'etre in present-day theories of feminism, many of these writers have elected to write about the merging of their personal dilemmas with the theatre stage, a world in which they feel comfortable. Statistics show that Vietnamese women occupy more positions in parliament than in most countries and, moreover, possess a legal and political status that allow them many more opportunities than previously. What remains problematic are personal relations between men and women. Given that many of the dramas are plays-within-a-play, or that the characters are frequently writers or actors, one might argue that the stage itself is the site of freedom, equality, and self-expression for these women--a place where they can act out fears and fantasies that cannot be resolved by revolution or legislation.


Tags: vietnam'sfemaledramatists | Edit Tags



Sunday March 23, 2008 - 02:40am (ICT) Edit | Delete | Permanent Link | 0 Comments

Labels: